Dơi ngựa bé
| Tên tiếng Anh: | Small flying fox |
|---|---|
| Tên Latin: | Pteropus hypomelanus |
| Đồng danh: | Pteropus condorensis Peter, 1869 |
| Đồng danh: | Pteropus tricolor Gray, 1871 |
| Đồng danh: | Pteropus annectens Andersen, 1908 |
| Đồng danh: | Pteropus simalurus Thomas, 1923 |
| Tên khác: | Dơi cáo bay nhỏ |
- Độ cao so mặt nước biển 100 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Bà Rịa - Vũng Tàu Cà Mau Sóc Trăng Vườn Quốc gia Côn Đảo, Việt Nam Hầu khắp Đông nam Á Vườn quốc gia U Minh Hạ, Việt Nam Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng ngập mặn Rừng bán ngập mặn Sống ở trên cây Rừng tràm bán tự nhiên Rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới ven biển
DƠI NGỰA BÉ
Pteropus hypomelanus (Temminck, 1853)
Pteropus condorensis Peter, 1869
Pteropus tricolor Gray, 1871
Pteropus annectens Andersen, 1908
Pteropus simalurus Thomas, 1923
Họ: Dơi quả Pteropodidae
Bộ: Dơi Chiroptera
Đặc điểm nhân dạng:
Dơi có kích thước nhỏ trong họ đơi quả. Dài cẳng tay 121 mm, dài đuôi 0 mm, dài tai 25 mm, trọng lượng 213g (1 dơi mẫu). Phần dưới lưng màu nâu xám đậm; phần trên lưng, cổ, phía sau đầu và phần thân dưới màu nâu vàng xanh; mặt dưới của đầu và hông màu nâu đậm.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các khu vực rừng ngập mặn hoặc bán ngập mặn, rừng trám. Trong lá của các cây Cọ dầu Elaeis guineensis hoặc giữa các cành của các cây gỗ nhỏ. Chúng thường bay kiếm ăn rất xa vào ban đêm. Ban ngày ngủ treo mình lủng lẳng trên những cành cây, sống thành từng bầy, đẻ 1 con, nuôi con bằng sữa, thời gian nuôi con 40 – 45 ngày. Thức ăn chủ yếu của loài này là mật hoa và quả trong rừng hoặc các loài cây trồng quanh khu vực phân bố. Đây là loài hữu ích cho việc thụ phấn của cây.
Phân bố:
Trong nước: Sóc Trăng (thị xã Sóc Trăng), Bà Rịa – Vũng Tàu (Côn Đảo), Cà Mau (đảo Hòn Khoai).
Nước ngoài: Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Philippines.
Giá trị:
Loài hiếm gặp, có giá trị nghiên cứu khoa học, thẩm mỹ và tiêu diệt các loài côn trùng gây hại trong thiên nhiên.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố ở các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Kiên Giang và Cà Mau. Quần thể của loài bị suy giảm do săn bắt quá mức làm thực phẩm, dược liệu và buôn bán; sinh cảnh sống bị chia cắt, thu hẹp, suy thoái, làm đường và cơ sở hạ tầng phát triển du lịch. Kích cỡ quần thể ước tính đã suy giảm > 50% trong vòng 15 năm qua (tiêu chuẩn A2cd). Từ năm 2000 đến 2022, số lượng cá thể ghi nhận ở đào Hòn Khoai (tỉnh Cà Mau) và Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) ước tính < 2.500 và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 250.
Phân hạng: CR A2cd+C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn, nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc bảo tồn và phòng chống nguy cơ dịch bệnh do hoạt động săn bắt, nuôn bán hoặc tiêu thụ thịt dơi.
Mô tả loài: Nguyễn Trường Sơn – Viện sinh thái tài nguyên sinh vật – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Trai tai tượng lớn
Tên tiếng Anh:Large giant clam
Tên Latin:Tridacna maxima
Cóc suối lào cai
Tên tiếng Anh:Luchun stream toad
Tên Latin:Bufo luchunnicus
Chó rừng
Tên tiếng Anh:Golden jackal
Tên Latin:Canis aureus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae