Dơi nếp mũi không đuôi
| Tên tiếng Anh: | Asian tailless roundleaf bat |
|---|---|
| Tên Latin: | Coelops frithii |
| Đồng danh: | Coelops bernsteini Peters, 1862 |
| Đồng danh: | Coelops formosanus Horikawa, 1928 |
| Đồng danh: | Coelops inflatus Miller, 1928 |
| Đồng danh: | Coelops sinicus Allen, 1928 |
| Tên khác: | Dơi thuỳ frit |
- Độ cao so mặt nước biển 800 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Ấn Độ Trung Quốc Kontum Nghệ An Tuyên Quang Hầu khắp Đông nam Á Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Vườn quốc gia Cát Bà, Việt Nam Vườn Quốc Gia Pù Mát, Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Tuyên Quang Đà Nẵng Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên, Lạng Sơn
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng núi đá vôi Rừng thường xanh núi cao Trong các hốc cây to bị rỗng trong rừng
DƠI NẾP MŨI KHÔNG ĐUÔI
Coelops frithii Blyth, 1848
Coelops bernsteini Peters, 1862
Coelops formosanus Horikawa, 1928
Coelops inflatus Miller, 1928
Coelops sinicus Allen, 1928
Họ: Dơi mũi Hipposidedae
Bộ: Dơi Chiroptera
Đặc điểm nhận dạng:
Loại dơi mũi cỡ lớn, ống tay 43 – 47 mm. Không đuôi. Lá mũi có vạt (lappet) dài, hẹp nổi lên trên lá bên bổ sung. Bộ lông dài, mềm. Màng da gian dùi phát triển tuy không đuôi. Tai ngắn, tròn, bề mặt có lông. T. 75 mm. OT. 43 – 47 mm.
Sinh học, sinh thái:
Sinh cảnh sống gồm hang động, vách núi hoặc dưới tán cây thuộc vùng núi đá vôi và núi đất. Hệ sinh thái hang động và rừng nhiệt đới thuộc vùng núi thấp; chủ yếu ở vùng sinh thái núi đá vôi. Thức ăn chủ yếu là một số loài côn trùng và nhện cỡ nhỏ.
Phân bố.
Việt Nam: Tuyên Quang (Na Hang), Lạng Sơn (Hữu Liên), Hải Phòng (Cát Bà), Ninh Bình (Cúc Phương), Nghệ An (Pù Mát), Đà Nẵng (Sơn Trà), Kon Tum (Sa Thầy).
Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Thái Lan.
Giá trị:
Có ý nghĩa khoa học lớn. Đông Dương có thể coi như cái nôi phát triển, phát sinh loại này, từ đó phát huy theo hướng Tây Bắc và Đông Nam.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố ở các tỉnh và thành phố Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hải Phòng, Ninh Bình, Nghệ An, Đà Nẵng và Kon Tum. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp, phân mảnh và suy thoái do mở đường, xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác lâm sản, canh tác nông nghiệp và phát triển du lịch ở các khu vực hang động. Loài này cũng bị săn bắt cùng các loài dơi khác làm thực phẩm ở một số địa phương. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm hơn 30% trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: VU C2a(i).
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên, cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống, tuyên truyền nâng cao nhận thức về việc bảo tồn và phòng chống nguy cơ dịch bệnh do hoạt động săn bắt, buôn bán hoặc tiêu thụ thịt dơi.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 62.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Cua bay kontum
Tên tiếng Anh:Kontum long-armed beetles
Tên Latin:Cheirotonus gestroi
Ba bét lông
Tên tiếng Anh:Bearded mallotus
Tên Latin:Mallotus barbatus
Rắn roi thường
Tên tiếng Anh:Asian vine snake
Tên Latin:Ahaetulla prasina
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae