TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Trường Sơn

Dơi chó tai ngắn

Tên tiếng Anh: Lesser short-nosed fruit bat
Tên Latin: Cynopterus brachyotis
Đồng danh: Pachysoma brachyotis Mỹller, 1838
Đồng danh: Cynopterus grandidieri Peters, 1869
Đồng danh: Cynopterus montanoi Robin, 1881
Đồng danh: Cynopterus brachyotis (Mỹller, 1838)
Tên khác: Dơi quả mũi ngắn
  • Độ cao so mặt nước biển 500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

DƠI CHÓ TAI NGẮN

Cynopterus brachyotis (Mỹller, 1838)
Pachysoma brachyotis Mỹller, 1838
Cynopterus grandidieri Peters, 1869
Cynopterus montanoi Robin, 1881
Họ: Dơi quả Pteropodidae
Bộ: Dơi Chiroptera

Đặc điểm nhận dạng:
Tai ngắn, có viền trắng hoặc xám, chiều dài nhỏ hơn 18 mm. Bộ lông màu xám nhạt hay nâu. Lông ở các phần: vai, cổ và hông của con trưởng thành màu da cam hoặc vàng tươi.
Sinh học, sinh thái:
Dơi chó tai ngắn thường sinh sống ở nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau: từ rừng núi đến đồng bằng, các khu đô thị…; trú ngụ dưới mái các công trình xây dựng, vách hang và dưới tán cây, loài dơi này có thể bay khoảng 97 – 113 km trong mỗi đêm để kiếm ăn; thức ăn của chúng là mật hoa, quả, hạt của nhiều loài cây khác nhau. Con cái có thời kỳ mang thai từ tháng 12 năm trước đến tháng 8 năm sau; thời gian mang thai từ 115 đến 125 ngày; có 2 thời kỳ sinh con non trong mỗi năm (từ tháng 2 đến tháng 3 và từ tháng 6 đến tháng 8), trong mỗi năm, thời gian mang thai lần thứ hai trùng với thời gian tiết sữa của lần thứ nhất. Khi mới sinh, con non nặng khoảng 11g; được mẹ mang theo khoảng 45 – 50 ngày; cai sữa khi được khoảng 40 – 45 ngày. Con cái thành thục sinh dục ở khoảng 5 – 6 tháng tuổi; con đực thành thục sinh dục ở khoảng 15 – 20 tháng tuổi.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Chợ Bờ), Bắc Kạn (Ba Bể, Bản Thi – Xuân Lạc), Hà Nội (Mai Lâm, Yên Sở), Hoà Bình (Chi Nê, Chợ Bờ), Ninh Bình (Cúc Phương), Hải Phòng (Cát Bà), Nghệ An (Pù Mát), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Trị (Lao Bảo, Phước Môn), Thừa Thiên-Huế (Bạch Mã), Đà Nẵng (Sơn Trà), Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk (Buôn Ma Thuột), Khánh Hoà (Nha Trang), Lâm Đồng (Bảo Lộc), Ninh Thuận (Nha Hồ, Đàm Nại), Đồng Nai (Cát Tiên), Tây Ninh (Tây Ninh), Thành phố Hồ Chí Minh (Cần Giờ), Kiên Giang (U Minh Thượng, Phú Quốc), Bến Tre.
Nước ngoài: Ấn Độ, Bhutan, Bangladesh, Myanmar, Malaysia, Indonesia, Sri Lanka.
Giá trị:
Có vai trò quan trọng trong phát tán thực vật. Phân loài Cynopterus brachyotis hoffeti là đặc hữu của miền Bắc Việt Nam.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố rộng từ Bắc vào Nam. Sinh cảnh sống của loài đang bị thu hẹp và suy thoái do chuyển đổi đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Loài này bị săn bắt làm thực phẩm do thói quen của một số địa phương. Kích cỡ quần thể ước tính < 10.000 cá thể và số lượng cá thể trưởng thành ở mỗi tiểu quần thể < 1.000; số lượng cá thể trưởng thành biến động mạnh do bị săn bắt và mất sinh cảnh sống.
Phân hạngVU C2a(i)b.
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên, cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống, tuyên truyền nâng cao nhận thức về việc bảo tồn và phòng chống nguy cơ dịch bệnh do hoạt động săn bắt, buôn bán hoặc tiêu thụ thịt dơi.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 60.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae