Đoác
| Tên tiếng Anh: | Sugar palm |
|---|---|
| Tên Latin: | Arenga pinnata |
| Đồng danh: | Gomutus rumphii Corrêa, 1807 |
| Đồng danh: | Saguerus pinnatus Wurmb, 1779 |
| Đồng danh: | Saguerus rumphii (Corrêa) Roxb. ex Fleming, 1810 |
| Đồng danh: | Sagus gomutus (Lour.) Perr., (1824) |
| Tên khác: | Búng báng |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Dùng để làm thuốc, nghiên cứu thuốc chữa bệnh Cho dầu, chất béo Trồng làm cảnh trong dinh thự, khu du lịch Làm thực phẩm cho con người Vật liệu xây dựng
- Sinh thái Cây thân rỗng
ĐOÁC
Arenga pinnata (Wurmb) Merr., 1917
Gomutus rumphii Corrêa, 1807
Saguerus pinnatus Wurmb, 1779
Saguerus rumphii (Corrêa) Roxb. ex Fleming, 1810
Sagus gomutus (Lour.) Perr., (1824)
Họ: Cau Arecaceae
Bộ: Cau Arecales
Đặc điểm nhận dạng:
Cây cao khoảng 7 – 10 m hay hơn, đường kính tới 40 – 50 cm. Thân có nhiều bẹ màu nâu bao lấy các gốc cuống lá, một số sợi cứng, dựng đứng, màu đen. Lá mọc vòng quanh thân và tập trung ở phía ngọn, tỏa rộng ra chung quanh; lá kép lông chim, dài 3 – 5 m có nhiều lá chét xếp hai bên cuống lá; mỗi lá chét dài 0,8 – 1,2 m, rộng 4,5 – 5 cm, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới trắng như phấn, gốc lá chét rộng kéo dài thành đai ôm lấy cuống lá.
Cụm hoa hình bông mo to, dài 0,9 – 1,2 m, chia nhiều nhánh cong xuống. Hoa đực hình nón có 70 – 80 nhị; hoa cái có 3 lá đài tồn tại ở quả. Quả hình cầu đường kính 3,5 – 5 cm, màu vàng nâu nhạt, trong có 3 hạt, hơi 3 cạnh, màu ám nâu, quả tiết chất nước gây ngứa do có nhiều tinh thể oxalat calcium hình kim rất nhỏ.
Sinh học, sinh thái:
Mọc hoang trong rừng núi đất, ở chân núi, trong thung lũng núi đá vôi miền trung du, trong rừng thứ sinh ít cây gỗ lớn ở hầu khắp các vùng đồi núi. Ra hoa vào mùa hè.
Phân bố:
Trong nước: Mọc ở hầu khắp các nước nhiệt đới châu Á, cũng được trồng ở nhiều nước. Ở Việt Nam, cây mọc phổ biến ở miền Bắc và miền Trung.
Nước ngoài: Trung, Đông Nam Trung Quốc, Hải Nam, Hawaii, Ấn Độ, Đảo Sunda nhỏ, Maluku, New Guinea, Trinidad – Tobago, Thái Lan, Cambodia
Công dụng:
Đoác đã được nhân dân ta sử dụng từ thời đại các vua Hùng. Tổ tiên ta đã từng lấy bột trong thân cây và củ để ăn thay cơm. Ruột thân cây chứa nhiều bột gỡ ra làm bánh ăn ngon. Cuống cụm hoa chứa nhiều nước ngọt có thể nấu thành đường ăn hoặc cho lên men để chế rượu. Nhân hạt luộc chín ăn ngon. Đồng bào miền núi cũng thường trồng thêm ở một số nơi để lấy bột ăn thay lương thực khi cần thiết (mỗi cây có thể cho khoảng 100kg bột). Nõn cây bóc vỏ cứng, thái nhỏ, luộc bỏ nước, dùng nấu canh ăn, hay xào ăn.
Bột Đoác cũng được sử dụng làm thuốc bồi bổ hư tổn suy yếu, ăn lâu thì lưng gối khỏi yếu mỏi. Quả cũng được dùng sắc uống chữa đau nhức. Dịch của lớp vỏ quả ăn da, độc đối với cá. Thân cây cũng được dùng sắc uống chữa cảm sốt, rễ dùng trị viêm cuống phổi, và làm dễ tiêu hóa. Ngoài ra những sợi ở bẹ lá còn lại trên cây có thể dùng làm chỉ khâu nón lá hay bện thừng, xe làm dây buộc. Cây có dáng đẹp, có thể trồng làm cảnh.
Tài liệu tham khảo: Cây có ích – Trần Hợp – Võ Văn Chi – trang 345.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Nhái bầu vân
Tên tiếng Anh:Painted frog
Tên Latin:Microhyla pulchra
Bướm đuôi berna
Tên tiếng Anh:Tawny rajah
Tên Latin:Charaxes bernardus
Sóc vằn lưng
Tên tiếng Anh:Berdmore's ground squirrel
Tên Latin:Menetes berdmorei
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae