Đỗ trọng
| Tên tiếng Anh: | No english name |
|---|---|
| Tên Latin: | Eucommia ulmoides |
| Đồng danh: | Eucommia ulmoides Oliv., 1890 |
| Đồng danh: | Eucommia ulmoides Oliv., 1890 |
| Đồng danh: | Eucommia ulmoides Oliv., 1890 |
| Đồng danh: | Eucommia ulmoides Oliv., 1890 |
| Tên khác: | Đỗ trọng trung quốc |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ. Trung
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Dùng để làm thuốc, nghiên cứu thuốc chữa bệnh
- Sinh thái Cây gỗ trung bình Cây gỗ nhỏ Cây nhập nội trồng ở Việt Nam
ĐỖ TRỌNG
Eucommia ulmoides Oliv., 1890
Họ: Đỗ trọng Eucommiaceae
Bộ: Đỗ trọng Garryales
Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ nhỡ, hay cây gỗ trung bình, cao 10 m hay hơn, vỏ thân và lá có nhựa mủ trắng vỏ màu xám, khi bẻ đôi sẽ thấy những sợi nhựa trắng mảnh như tơ nối giữa các mảnh vỏ; lá mọc so le, hình trứng rộng, dài 6 – 8 cm, rộng 3 – 7, 5 cm, màu lục bóng, mép lá khía răng. Lá cũng có gôm tựa Gutta percha như ở vỏ. Hoa đơn tính khác gốc; hoa đực và hoa cái không có bao hoa; hoa đực mọc thành chùm; hoa cái tụ tập 5 – 10 cái ở nách lá. Quả hình thoi dẹp, màu nâu.
Sinh học, sinh thái:
Loài của Trung Quốc mọc hoang ở vùng lạnh và cũng được trồng nhiều, nhập giống vào trồng ở nước ta từ năm 1958, đến năm 1960, việc trồng thử ở Sapa đạt kết quả tốt. Ta đã nhân giống và trồng ở một số nơi khác ở Vĩnh Phú, Lai Châu, Thanh Hóa, Gia Lai, Lâm Đồng thì nhận thấy cây sinh trưởng tốt ở vùng núi cao trên 1.000m. Trồng 10 năm 50 – 60 cm mới thu hoạch được vỏ tốt. Có thể thu vỏ vào mùa xuânbằng cách bóc trừ lại 1/3 chu vi thân đảm bảo cho cây vẫn sinh trưởng bình thường, để sau vài năm lại tiếp tục thu hoạch. Vỏ bóc ra đem ép phẳng. Xếp thành đống, ủ 6 – 7 ngày đến khi mặt trong có màu đen. Phơi hay sấy khô, cạo vỏ ngoài cho nhẵn bóng.
Phân bố:
Trong nước: Trồng ở Vườn dược liệu ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai (Sapa), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Lai Châu.
Nước ngoài: Cây nguyên bản của Trung Quốc.
Công dụng:
Vỏ đỗ trọng dung trị thận hư, đau lưng, chân gối yếu mỏi, phong thấp, sưng tê phù, cao huyết áp, di tinh liệt dương, có thai đau bụng, động thai ra huyết, hay đi đái đêm bại liệt. Ngày dùng 12 – 20g, dạng thuốc sắc, cao lỏng, rượu thuốc hoặc hoàn tán. Khi dùng có thể tẩm muối sao.
Mô tả loài: Trần Hợp, Phùng Mỹ Trung, Phạm Văn Thế – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:003
-
CƠ CHẾ TIÊU BIẾN ĐUÔI CỦA LƯỠNG CƯ AMPHIBIAN22 Tháng 9, 2026 -
RỒNG KOMODO, CÚ LẬT KÈO NGOẠN MỤC VỀ ĐỘC HỌC11 Tháng 9, 2026 -
CƠ CHẾ FRONT-FANGED VÀ REAR-FANGED Ở RẮN ĐỘC9 Tháng 9, 2026 -
NGỤY TRANG TẤN CÔNG Ở HYMENOPUS CORONATUS6 Tháng 9, 2026 -
CHỒN BAY-SINH HỌC, TẬP TÍNH LƯỢN ĐÊM VÀ NHỮNG NHẦM LẪN6 Tháng 9, 2026
Bài liên quan
Bướm tím mã lai
Tên tiếng Anh:Malayan assyrian
Tên Latin:Terinos clarissa
Bướm đuôi
Tên tiếng Anh:Vagrant
Tên Latin:Vagras egista
Rắn hổ xiên mắt
Tên tiếng Anh:Large-eyed bamboo snake
Tên Latin:Pseudoxenodon macrops
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae