TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Đỉnh tùng

Tên tiếng Anh: Mann's plum yew
Tên Latin: Cephalotaxus mannii
Đồng danh: Cephalotaxus hainanensis H. L. Hu, 1953
Đồng danh: Cephalotaxus griffithii Hook. f., 1888
Đồng danh: Cephalotaxus hainanensis H. L. Hu, 1953
Đồng danh: Cephalotaxus griffithii Hook. f., 1888
Tên khác: Tùng núi
  • Độ cao so mặt nước biển 2000 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ĐỈNH TÙNG

Cephalotaxus mannii Hook. f., 1886
Cephalotaxus griffithii Hook. f., 1888
Cephalotaxus hainanensis H. L. Hu, 1953
Họ: Đỉnh tùng Cephalotaxaceae
Bộ: Thông Pinales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ nhỡ thường xanh, ít khi cao 10 – 15 m, cành mảnh mọc đối và xoè ngang. Lá mọc xoắn ốc, xếp thành hai dãy, hình dải, dài 2 – 4 cm, rộng 0,2 – 0,4 cm, thẳng hay hơi cong ở gần đầu và thót nhanh có mũi nhọn ở đầu, men, cụt hay hơi tròn ở gốc, mặt dưới có hai dải lỗ khí màu trắng. Nón đực hình đầu mang từ 8 – 10 hoa đính trên cuống ngắn có vảy, mọc ở nách lá; mỗi hoa có lá hoa ở gốc mang 7 – 10 nhị, mỗi nhị có 3 túi phấn. Nón cái đơn độc hay mọc chùm 3 – 5 cái ở nách lá; mỗi nón gồm 9 – 10 vảy, ở mặt bụng có 2 noãn. Hạt hình trứng, dài khoảng 2,7 cm, đường kính khoảng 1,8 cm, tròn và có mũi nhọn ở đỉnh, vỏ hạt vàng hoặc xanh, khi chín mọng nước.
Sinh học, sinh thái:
Mùa ra nón tháng 4 – 5, hạt chín vào tháng 9 – 10 năm sau. Tái sinh bằng hạt diễn ra bình thường. Mọc rải rác ở phần dưới sườn núi đất hoặc đá vôi, ít khi lên gần đỉnh, trong rừng rậm thường xanh cây lá rộng, ở độ cao khoảng 600 – 1.200 m, nơi có ít ánh sáng và ẩm.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây mới gặp chủ yếu ở Sơn La (Yên Châu: Mường Lựm), Hà Tây (núi Ba Vì), Thanh Hoá (Lũng Vân), Quảng Trị (giữa Hòn Rao và A Rua), Thừa Thiên – Huế (Phú Lộc: Vườn Quốc gia Bạch Mã), Kontum (Đắk Glei, Đác Tô, Sa Thầy), Gia Lai, Lâm Đồng (Lang Bian, Di Linh). Gần đây mới phát hiện ở vùng Đông bắc: Hà Giang (Tài Phìn Tủng, Ha Pu Da, Yên Minh: Lao Và Chải, Ngan Chai), Cao Bằng (Ca Thành).
Nước ngoài: Ấn Độ, Lào, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc.
Giá trị:
Nguồn gen quí. Gỗ bền và tốt, dùng trong xây dựng và nhất là để đóng đồ gỗ cao cấp.
Tình trạng:
Ở Việt Nam, loài này ghi nhận ở một số tỉnh miền Bắc vào đến Tây Nguyên. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản. Loài này bị khai thác quá mức lấy gỗ và làm đồ mỹ nghệ. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 30 % trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: VU A2d.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải tiếp tục bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc khai thác trái phép, phục hồi quần thể của loài trong tự nhiên. Tiến hành trồng bảo tồn ở các vườn thực vật.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 491.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae