TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Đảng sâm

Tên tiếng Anh: No english name
Tên Latin: Codonopsis javanica
Đồng danh: Codonopsis javanica (Blume) Hook. f. 1855
Đồng danh: Campanumoea javanica Blume, 1826
Đồng danh: Codonopsis javanica (Blume) Hook. f. 1855
Đồng danh: Campanula javanica (Blume) D.Dietr., (1839)
Tên khác: Sâm leo
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ĐẢNG SÂM

Codonopsis javanica (Blume) Hook. f. 1855
Campanumoea javanica Blume, 1826
Campanula javanica (Blume) D.Dietr., (1839)

Họ: Hoa chuông Campanulaceae
Bộ: Cúc Asterales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây thảo sống nhiều năm, thân leo, dài 2 – 3 m, phân nhánh nhiều. Toàn cây có nhựa mủ màu trắng. Rễ củ hình trụ dài, phân nhánh, nạc, màu vàng nhạt. Lá đơn, mọc đối, hình trứng hoặc hình tim, cỡ 2 – 5 x 2 – 4,5 cm, mỏng, mềm, màu xanh lá mạ, mặt dưới có lông nhung trắng, mép nguyên hoặc có răng cưa tù; cuống dài 3 – 7 cm. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, hình chuông, màu trắng hoặc hơi vàng, họng có vân tím. Đài 5 thuỳ, hình mác nhọn, hơi dính nhau ở gốc. Tràng 5 thuỳ, hình tam giác nhọn. Nhị 5. Bầu 5 ô. Quả mọng, 5 cạnh, khi chín màu tím, mang đài tồn tại. Hạt nhiều, tròn, nhỏ, màu vàng nâu.
Sinh học, sinh thái:
Mùa hoa tháng 5 – 7, quả tháng 7 – 9 (10). Nhân giống tự nhiên từ hạt. Khả năng tái sinh từ rễ củ còn sót lại khi thu hoạch kém. Cây ưa ẩm, ưa sáng, nhưng chịu được bóng. Thường mọc ở những nơi đất tốt, nhiều mùn, trong các chỗ trống và ven các rừng thứ sinh và nương rẫy, ở độ cao 600 – 2.000 m.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu (Sìn Hồ, Phong Thổ), Điện Biên (Tủa Chùa), Lào Cai (Sapa, Bát Xát, Than Uyên), Sơn La (Mộc Châu, Mường La), Yên Bái (Mù Cang Chải), Hà Giang (Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh), Cao Bằng (Trùng Khánh, Trà Lĩnh), Bắc Kạn (Bạch Thông), Thái Nguyên (Tam Đảo), Lạng Sơn (Tràng Định), Hoà Bình (Đà Bắc, Mai Châu), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hoá (Son Bá Mười), Nghệ An (Mường Lống), Quảng Nam (Trà My), Kontum (Đắk Tô, Đắk Glei: Ngọc Linh), Lâm Đồng (Đà Lạt, Lạc Dương).
Nước ngoài: Ấn Độ, Bangladesh, Trung Quốc , Đông Himalaya, Hải Nam, Nhật Bản, Jawa, Lào, Myanmar, Nansei-shoto, Sumatera, Đài Loan, Thái Lan.
Giá trị:
Cây thuốc quý được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Rễ củ dùng làm thuốc bổ, chữa cơ thể suy nhược, thiếu máu, vàng da, ăn uống khó tiêu.
Tình trạng:
Thường xuyên bị khai thác lấy rễ củ để làm thuốc. Nạn phá rừng làm nương rẫy đã trực tiếp làm cho khu phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng. Trữ lượng tự nhiên bị giảm sút nhiều.
Phân hạng: VU A1a,c,d + 2c,d
Biện pháp bảo vệ:
Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “sẽ nguy cấp” (Bậc V) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ – CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Cần bảo vệ triệt để quần thể Đảng sâm mọc tự nhiên ở các Vườn quốc gia như Cúc Phương, Hoàng Liên và các Khu bảo tồn thiên nhiên Du Già, Bát Đại Sơn. Hạn chế khai thác và luân chuyển vùng khai thác với chu kỳ khoảng 10 năm. Phát triển nhân trồng thêm ở vùng núi cao; trồng được bằng hạt.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2007 – phần thực vật – trang 152.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae