TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Đại bàng đầu nâu

Tên tiếng Anh: Tawny eagle
Tên Latin: Aquila rapax
Đồng danh: Aquila rapax (Temminck, 1828)
Đồng danh: Aquila rapax (Temminck, 1828)
Đồng danh: Aquila rapax (Temminck, 1828)
Đồng danh: Aquila rapax (Temminck, 1828)
Tên khác: Đại bàng đầu nâu
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ĐẠI BÀNG ĐẦU NÂU

Aquila rapax (Temminck, 1828)
Họ: Ưng Accipitridae
Bộ: Cắt Falconiformes

Đặc điểm nhận dạng:
Chim có kích thước lớn, bộ lông nhìn chung có màu nâu tối. Phía sau đầu, gáy và cổ có màu trắng đến vàng kem nhạt, gốc đuôi màu xám. Có tiếng kêu to, lặp đi lặp lại.
Sinh học, sinh thái:
Đại bàng đầu nâu cư trú ở vùng địa hình rừng núi và đồng bằng thấp, trống trải (lên đến độ cao khoảng 400 m), thường di chuyển đến vùng cao mỗi khi bị tác động mạnh và mất nơi ở. Tại khu vực Trung và Đông châu Âu người ta còn gặp chúng làm tổ lên đến độ cao 3.000 m, cả trong các khu vực đồng cỏ, hay vùng sản xuất nông nghiệp. Người ta còn gặp chúng trong các khu rừng gần sông suối và có vẻ như chúng thích trú đông ở gần các vùng đất ngập nước. Các địa điểm đã quan sát thấy Đại bàng đầu nâu ở Việt Nam thuộc miền núi và vùng ven biển.
Phân bố:
Trong nước: Vùng Tây và Đông bắc (Lào Cai, Điện Biên, Hà Giang, Bắc Kạn, Hòa Bình).
Nước ngoài: Định cư sinh sản tại Châu Phi, Ấn Độ, Pakitan, Nepal, di cư, lang thang qua Bangladesh, Thái Lan, Campuchia.
Giá trị:
Loài chim ăn thịt rất hiếm ở Việt Nam, có giá trị khoa học và thẩm mỹ. Đóng vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái tự nhiên.
Tình trạng:
Đại bàng nâu là loài chim di cư rất hiếm gặp và chỉ ghi nhận ở miền Bắc. Ở Việt Nam, mới chỉ ghi nhận 1 lần vào năm 2008 tại tỉnh Vĩnh Phúc; sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp và suy thoái; dự đoán kích cỡ quần thể rất nhỏ, ước tính kích cỡ quần thể < 50 cá thể. Hiệp hội nghiên cứu Chim ăn thịt Châu Phi đánh giá hiện trạng quần thể của loài ở Châu Phi vào khoảng từ 73,860 cặp. Ferguson – Lees and Christie (2001) ước tính quần thể toàn cầu dao động từ 100,000 – 999,999 cá thể (trong đó quần thể tại Nam Á dao động từ 10,000 – 99,999 cá thể), tương đương với 100,000 – 499,999 cá thể trưởng thành.
Phân hạngCR D
Biện pháp bảo vệ:
Đại bàng nâu có tên trong Nghị định số 84/2021/NĐ – CP của Chính phủ, phụ lục II CITES. Một phần sinh cảnh của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất điều tra quần thể loài tại Việt Nam, phục hồi sinh cảnh sống trong vùng phân bố tự nhiên của loài; kiểm soát các hoạt động săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 316.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae