TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cua bay đen

Tên tiếng Anh: Jansoni long-armed beetles
Tên Latin: Cheirotonus jansoni
Đồng danh: Cheirotonus fujiokai Muramoto, 1994
Đồng danh: Cheirotonus szetshuanus Medvedev, 1960
Đồng danh: Propomacrus jansoni Jordan, 1898
Đồng danh: Propomacrus nankinensis Yu, 1936
Tên khác: Cua bay
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CUA BAY ĐEN

Cheirotonus jansoni (Jordan, 1898)
Cheirotonus fujiokai Muramoto, 1994
Cheirotonus szetshuanus Medvedev, 1960
Propomacrus jansoni Jordan, 1898
Propomacrus nankinensis Yu, 1936
Họ: Bọ hung Scarabaeidae
Bộ: Cánh cứng Coleoptera

Đặc điểm nhận dạng: 
Cơ thể đực dài tới trên 70 mm. Đực: Tấm lưng ngực trước có màu xanh cổ vịt óng ánh, diềm bên có gai dạng răng cưa, có lông màu vàng. Cánh trên màu đen, diềm cánh màu nâu vàng hay vàng. Chân trước phát triển. ống chân và các đốt bàn chân dài. Đỉnh ống chân trước có gai dài hướng vào nhau, trên ống chân có nhiều gai ngắn. Chiều dài của chân trước dài hơn chiều dài của cơ thể. Con cái giống con đực về màu sắc, nhưng chân trước không phát triển kéo dài, ống chân trước ngắn và mép ngoài của nó có gai dạng răng cưa.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các khu rừng tự nhiên ở miền Bắc và miền Trung. Dạng sinh cảnh phân bố rừng ẩm nhiệt đới thường xanh. Ấu trùng ăn các phần cây khô mục. Thời gian sinh sản từ tháng 4 đến tháng 8 và ghi nhận con trưởng thành khi bẫy đèn từ tháng 6 đến tháng 8.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Hà Giang (Quản Bạ, Đồng Văn), Cao Bằng (Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén), Tuyên Quang (Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Lâm Bình – Sinh Long), Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), Phú Thọ (Vườn quốc gia Xuân Sơn), Quảng Nam (Tây Giang).
Nước ngoài: Trung Quốc, Lào, Myanmar.
Giá trị:
Loài bọ cánh cứng đẹp, hiếm, được các nhà sưu tầm ưa chuộng, các nhà buôn mua với giá đắt và được đánh giá là một trong các loài bọ cánh cứng đẹp và có giá trị sưu tầm nhất ở Việt Nam.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận ở 6 tỉnh từ vùng núi phía Bắc tới Quảng Nam với số lượng cá thể trưởng thành rất ít, thường dưới 4 cá thể trong một đợt khảo sát. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do chuyển đổi đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản, phát triển cơ sở hạ tầng và du lịch. Kích cỡ quần thể của loài bị suy giảm ước tính trên 30% trong vòng 30 năm qua do thu hẹp và suy thoái sinh cảnh sống cũng như bị khai thác, buôn bán làm sinh vật cảnh.
Phân hạng: VU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh sống của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh trong vùng phân bố tự nhiên của loài; phục hồi quần thể trong tự nhiên; kiểm soát thu bắt và buôn bán trái pháp luật loài này..

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae