Cu li nhỏ
| Tên tiếng Anh: | Pygmy slow loris |
|---|---|
| Tên Latin: | Xanthonycticebus pygmaeus |
| Đồng danh: | Nycticebus pygmaeus (Bonhote, 1907) |
| Đồng danh: | Nycticebus pygmaeus (Bonhote, 1907) |
| Đồng danh: | Nycticebus pygmaeus (Bonhote, 1907) |
| Đồng danh: | Nycticebus pygmaeus (Bonhote, 1907) |
| Tên khác: | Cu li lùn nhỏ |
- Độ cao so mặt nước biển 1500 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Hầu khắp các tỉnh ở Trung Bộ Hầu khắp các tỉnh ở Nam Bộ Hầu khắp các tỉnh Tây nguyên Việt Nam Hầu khắp các nước Đông dương (Thái Lan) Vườn quốc gia Sông Thanh, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng nửa rụng lá Rừng tre nứa Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Rừng phục hồi sau nương rẫy
- Tình trạng bảo tồn Nguy cấp EN: Endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài có nọc độc nguy hiểm chết người Thú kiếm ăn ban đêm Thú linh trưởng ăn tạp cả thực vật và động vật
CU LI NHỎ
Xanthonycticebus pygmaeus (Bonhote, 1907)
Nycticebus pygmaeus (Bonhote, 1907)
Họ: Cu li Lorisidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Đặc điểm nhận dạng:
Trông giống như Cu li lớn Nycticebus coucang, nhưng nhỏ hơn và ở lưng màu vàng hơn. Xung quanh hai mắt có vòng tròn lông màu nâu vàng. Có hai dải lông màu nâu sẫm chạy từ đỉnh đầu xuống trên hai mắt. Từ hai gốc tai có hai vệt rộng màu nâu đỏ chạy từ trên đỉnh đầu và nối với nhau. Lông mềm mại, màu hung nâu xen kẽ ít lông trắng bạc. Dọc sống mũi có vệt trắng. Dọc sống lưng không có sọc hoặc rất mờ, bụng trắng vàng ánh bạc. Răng hàm thứ hai lớn hơn răng hàm thứ nhất. Ngón chân thứ 2 có vuốt, các ngón chân khác có móng.
Loài Cu li nhỏ trước đây được xếp ở giống Nycticebus, tuy nhiên, Nekaris & Nijman (2022) chuyển loài này sang giống Xanthonycticebus. Cu li nhỡ Nycticebus intermedius trước đây được coi là synonym của Nycticebus pygmaeus nhưng Blair et al., (2023) đã khôi phục là tên loài có hiệu lực, ghi nhận phân bố ở các tỉnh miền Bắc vào đến đèo Hải Vân. Loài Cu li nhỏ Xanthonycticebus pygmaeus hiện ghi nhận phân bố từ đèo Hải Vân vào đến các tỉnh miền Nam.
Sinh học, sinh thái:
Con cái trưởng thành sau 9 tháng, con đực sau 17 – 20 tháng. Thời gian mang thai kéo dài 188 ngày. Mùa sinh sản vào tháng 10 đến tháng 12. Mỗi lứa đẻ 1 – 2 con. Tuổi thọ kéo dài 20 năm. Thức ăn là quả, nõn cây, côn trùng, trứng chim, chim non trong tổ và chúng thường ăn nhựa cây. Hoạt động kiếm ăn ban đêm. Thích leo trèo, chuyển động nhanh hơn loài Cu li lớn Nycticebus bengalensis. Sống đơn độc hay thành nhóm nhỏ 3 – 4 con. Chúng sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau. Thích nghi với điều kiện rừng thưa, thoáng, trên các gốc cây, bụi rậm, ven rừng, trên nương rẫy.
Phân bố:
Trong nước: Đà Nẵng (Sơn Trà, Nam Hải Vân), Quảng Nam (Vườn quốc gia Sông Thanh, Nông Sơn), Quảng Ngãi, Kontum (Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, Vườn quốc gia Chư Mon Ray, Kon Plông), Gia Lai (Kon Cha Rang, Vườn quốc gia Kon Ka Kinh), Đắk Lắk (Vườn quốc gia Yôk Đôn, Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Nam Ca, Ea Sô), Lâm Đồng (Vườn quốc gia BiDoup – Núi Bà), Bình Định, Ninh Thuận (Vườn quốc gia Phước Bình), Bình Thuận (Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kou), Đồng Nai (Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên), Tây Ninh (Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát), Bà Rịa – Vũng Tàu (Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu). Thành phố Hồ Chí Minh.
Nước ngoài: Lào, Cambodia.
Giá trị:
Có giá trị thẩm mỹ và nghiên cứu khoa học. Có thể nuôi ở các vườn thú, giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu tiến hóa của các loài Linh trưởng Primates.
Tình trạng:
Cu li nhỏ được ghi nhận phân bố rộng ở các tỉnh miền Trung và miền Nam, từ đèo Hải Vân vào đến thành phố Hồ Chí Minh (ở phần phía đông sông Mê Kông), tuy nhiên rất hiếm gặp. Quần thể loài này ước tính đã suy giảm > 50% trong khoảng 30 năm qua do bị săn bắt và buôn bán làm sinh vật cảnh và dược liệu; sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, khai thác lâm sản.
Phân hạng: EN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố tự nhiên của loài; kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế; tuyên truyền nhằm giảm thiểu tác động đến sinh cảnh sống và quần thể của loài.
Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 36.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Thằn lằn ngón bà đen
Tên tiếng Anh:Ba Den bent-toed gecko
Tên Latin:Cyrtodactylus badenensis
Dó đất hoa thưa
Tên tiếng Anh:No name
Tên Latin:Balanophora laxiflora
Chuột chù cao van sung
Tên tiếng Anh:Caovansung's shrew
Tên Latin:Chodsigoa caovansunga
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae