Cu li lớn
| Tên tiếng Anh: | Greater slow loris |
|---|---|
| Tên Latin: | Nycticebus bengalensis |
| Đồng danh: | Loris coucang Boddaert, 1785 |
| Đồng danh: | Nycticebus cinereus Milne - Edwards, 1867 |
| Đồng danh: | Nycticebus incanus Thomas, 1921 |
| Đồng danh: | Nycticebus tenasserimensis Elliot, 1913 |
| Tên khác: | Cu li bengan |
- Độ cao so mặt nước biển 1300 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Lào Thái Lan Ấn Độ Trung Quốc Kiên Giang Hầu khắp Đông nam Á Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Hầu khắp các tỉnh ở Trung Bộ Vườn quốc gia Du Già, Việt Nam Vườn quốc gia Cúc Phương, Việt Nam Bangladesh Bhutan
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng ven biển Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Rừng phục hồi sau nương rẫy
- Tình trạng bảo tồn Sắp nguy cấp VU: Vulnerable Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài có nọc độc nguy hiểm chết người Thú kiếm ăn ban đêm Thú linh trưởng ăn tạp cả thực vật và động vật
CU LI LỚN
Nycticebus bengalensis (Lacepede, 1800)
Loris coucang Boddaert, 1785
Nycticebus cinereus Milne – Edwards, 1867
Nycticebus incanus Thomas, 1921
Nycticebus tenasserimensis [Elliot, 1913]
Họ: Cu li Lorisidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Đặc điểm nhận dạng:
Đầu tròn, trên đỉnh đầu có sọc màu nâu sẫm. Mắt trố to. Xung quanh hai mắt có vòng lông màu nâu đỏ. Từ trên đỉnh đầu có hai sọc nhỏ màu nâu nhạt chạy xuống dưới mắt. Từ hai gốc tai có vệt lông màu nâu nhạt chạy lên đỉnh đầu và liên kết với nhau. Dải lông màu nâu sẫm chạy dọc từ trên đỉnh đầu theo sống lưng xuống phía dưới. Lông mịn màng, có màu vàng đỏ, cũng có thể có màu vàng nhạt hoặc màu xám. Ngực thường có màu xám tro. Bụng màu hơi vàng nhạt. Hông và chân sau có màu đỏ hoe. Kích thước cỡ nhỏ. Dài thân: 260 – 310 mm, dài đuôi: 19 – 40 mm. Ngón tay trỏ nhỏ, ngón chân thứ hai có vuốt, các ngón khác có ống. Răng hàm thứ nhất lớn hơn răng hàm thứ hai.
Sinh học, sinh thái:
Con đực và con cái trưởng thành sau 21 tháng. Thời gian mang thai 191 ngày. Khoảng cách giữa các lần sinh từ 12 – 18 tháng. Cuộc sống kéo dài khoảng 20 năm. Thức ăn chủ yếu là quả cây: 50%, các loài động vật: 30%, đặc biệt là các loài côn trùng. Hoạt động về ban đêm. Ban ngày ngủ trên cây cuộn tròn, mặt cúi vào trong lòng. Chúng thường làm tổ trên các hốc cây. Cuộc sống leo trèo. Sống đơn độc hoặc thành nhóm 3 – 4 cá thể. Khu vực sống chủ yếu là các rừng tre nứa, rừng nguyên sinh, cây bụi, các khu vườn thứ sinh. Chúng thích các vị trí trên đỉnh núi hoặc đỉnh giông có thể cao tới 1.300 m so với mực nước biển.
Phân bố:
Trong nước: Điện Biên (Mường Nhé), Yên Bái (Mù Cang Chải), Lào Cai (Văn Bàn), Sơn La (Sốp Cộp), Hà Giang (Du Già, Khau Ca), Hòa Bình (Hang Kia – Pà Cò, Đà Bắc), Phú Thọ (Xuân Sơn), Tuyên Quang (Na Hang), Bắc Kạn (Kim Hỷ, Ba Bể, Nam Xuân Lạc), Thái Nguyên (Thần Sa), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Lạng Sơn (Hữu Liên), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hoá (Xuân Liên, Pù Luông), Nghệ An (Pù Mát, Pù Hoạt, Pù Huống), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Bình (Phong Nha-Kẻ Bàng), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đắk Rông), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã, Phong Điền, Khu BT Sao La), Bình Định, Quảng Nam (Sông Thanh), Quảng Ngãi, Kontum (Kon Plông, Chư Mom Ray), Gia Lai (Kon Chư Răng), Đắk Lắk (Yôk Đôn), Ninh Thuận (Phước Bình), Tây Ninh (Lò Gò-Xa Mát), Bình Phước (Bù Gia Mập), Kiên Giang (Phú Quốc).
Nước ngoài: Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc.
Giá trị:
Thú quý và cổ trong bộ Linh trưởng Primates, có vị trí đặc biệt trong nghiên cứu tiến hóa và thích nghi với đời sống trên cây. Mặt khác dễ nuôi, rất hấp dẫn trong các vườn thú nên có thể nuôi nhân giống trong các Vườn thú để giúp sinh viên, học sinh nghiên cứu và giáo dục về đa dạng sinh học loài.
Tình trạng:
Cu li lớn được ghi nhận phân bố rộng ở hầu khắp các khu vực rừng trong cả nước, tuy nhiên rất hiếm gặp. Quần thể của loài này ước tính đã suy giảm > 50% trong khoảng 30 năm qua do bị săn bắt và buôn bán làm sinh vật cảnh và dược liệu; sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng và khai thác lâm sản.
Phân hạng: VU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Quản lý khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài.
Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 35.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm đốm xanh
Tên tiếng Anh:Dark blue tiger
Tên Latin:Tirumala septentrionis
Ếch yên tử
Tên tiếng Anh:Yen Tu odorous frog
Tên Latin:Odorrana yentuensis
Bướm bụng sọc trắng
Tên tiếng Anh:Common sergeant
Tên Latin:Athyma perius
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae