TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Quản Trọng Hoàng

Công

Tên tiếng Anh: Green peafowl
Tên Latin: Pavo muticus
Đồng danh: Pavo muticus Delacour, 1949
Đồng danh: Pavo muticus Delacour, 1949
Đồng danh: Pavo muticus Delacour, 1949
Đồng danh: Pavo muticus Delacour, 1949
Tên khác: Công má vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 900 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CÔNG

Pavo muticus Delacour, 1949
Họ: Trĩ Phasianidae
Bộ: Gà Galliformes

Đặc điểm nhận dạng:
Nhìn chung bộ lông ở con đực trưởng thành có màu lục ánh thép. Đuôi dài, lông bao đuôi trên phát triển thành lông trang hoàng dài tới 1500 mm, màu lục ánh đồng, lúc xoè ra có hình nan quạt thẳng đứng. Con cái có màu sắc tương tự con đực, chỉ khác là đuôi ngắn hơn và không có lông trang hoàng. Mỏ xám sừng. Mắt nâu, da quanh mặt vàng xanh. Giò xám thẫm ánh xanh. Con đực và cái đều có cựa, nhưng ở con đực phát triển hơn con cái.
Sinh học, sinh thái:
Công làm tổ đơn giản ngay trên mặt đất ở nơi kín đáo nhưng khô, thoáng. Thời gian đẻ vào tháng 5 – 6, mỗi lứa đẻ 3 – 5 trứng hình bầu dục, một đầu to, một đầu nhỏ. Công nuôi ở Vườn thú Hà Nội đẻ 6 quả (Đặng Gia Tùng, 1998). Nuôi ở Suối Hai, Ba Vì đẻ tới 10 quả, vỏ trứng màu hung nhạt. Kích thước trung bình (77,6 x 56,3 mm), thời gian ấp là 24 – 25 ngày.
Thức ăn chủ yếu là các loại quả cây, hạt ngũ cốc, hạt cỏ dại, nhiều loại côn trùng trong đó chúng thích nhất là cào cào, châu chấu, giun đất và ngoé, nhái. Mùa thay lông vào tháng 6 và tháng 11 trong năm.
Phân bố
Trong nước: Vùng Hà Tĩnh (Khe Bưởi, hồ Kẻ Gỗ), Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hoà (Diên Khánh), Gia Lai, Kontum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Phước ( Bù Gia Mập), Đồng Nai (Vườn Quốc gia Cát Tiên).
Nước ngoài: Bangladesh, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia.
Giá trị:
Chim có bộ lông và hình dáng đẹp nên đã trở thành chim cảnh từ lâu ở nhiều nước trên thế giới và có giá trị khoa học, thương mại …
Tình trạng:
Công phân bố khá rộng ở Trung Bộ và Nam Bộ, tuy nhiên, vùng phân bố bị thu hẹp và chia cắt; sinh cảnh sống bị suy thoái do chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản và phát triển cơ sở hạ tầng; loài này cũng bị săn bắt cạn kiệt để làm thực phẩm và làm cảnh; ước tính kích cỡ quần thể đã bị suy giảm hơn 50% trong 20 năm qua (tiêu chuẩn A2cd); quần thể nhỏ, phân tán, ước tính < 2.500 cá thể và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 250.
Phân hạng: EN A2cd; C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Công có tên trong Phụ lục II CITES, Nghị định số 64/2019/NĐ-CP và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần tăng cường công tác bảo vệ, bảo tồn loài, kiểm soát chặt tình trạng săn bắt, phá huỷ sinh cảnh sống; bảo vệ và phục hồi sinh cảnh sống trong vùng phân bố tự nhiên của loài; kiểm soát các hoạt động săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này..

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 265.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae