Răn lục trường sơn
| Tên tiếng Anh: | Jade tree snake |
|---|---|
| Tên Latin: | Gonyosoma iadinum |
| Đồng danh: | Gonyosoma prasinum Nguyen et al., 2009 |
| Đồng danh: | Elaphe prasina Stuart & Heatwole, 2008 |
| Đồng danh: | Rhynchophis prasinus Wallach et al., 2014 |
| Đồng danh: | Gonyosoma iadinum Poyarkov et al., 2025 |
| Tên khác: | Rắn xanh trường sơn |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
RẮN LỤC TRƯỜNG SƠN
Gonyosoma iadinum Poyarkov et al., 2025
Gonyosoma prasinum Nguyen et al., 2009
Elaphe prasina Stuart & Heatwole, 2008
Rhynchophis prasinus Wallach et al., 2014
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Con đực trưởng thành, thân mảnh, hóp mặt bên, cơ bắp chắc chắn. Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 607 mm. Dài đuôi 218 mm. Đầu thon dài, hình tam giác, hơi hẹp phía trước, hơi dày phía sau, dẹt phía trước, phân biệt bởi cổ. Dài đầu 24.2 mm. Rộng đầu 13.3mm. Mõm dài, hơi dày và phẳng, tròn ở góc nhìn lưng, tù ở góc nhìn ngang, không nhô ra khỏi hàm dưới. Không có gờ mũi. Lỗ mũi ở mặt bên, lớn, hình trứng nằm dọc, ở ngay giữa vảy mũi. Mắt lớn, có con ngươi tròn. Đường kính mắt 4.4 mm. Khoảng cách mắt mũi 5.9 mm. Đuôi dài, mảnh, hình trụ, chót nhọn và có thể cầm nắm. Vảy mõm phát triển, rộng hơn cao, có thể nhìn thấy từ phía trên nhưng hầu như không tách các vảy gian mũi. Vảy mũi phân thành 2 vảy. 2 vảy gian mũi, rộng hơn cao, được bao quanh bởi 2 vảy trước trán lớn phía sau. Vảy trán đơn, nở rộng, hình ngũ giác, hẹp phía sau. Các vảy chẩm dài hơn rộng, nối với nhau. 1 vảy má nhỏ, gần hình tứ giác thon dài. Vảy môi trên 9/9, trong đó vảy thứ nhất và thứ hai nối với vảy mũi, vảy thứ hai và thứ ba tiếp giáp với vảy má, vảy thứ tư và thứ sáu sát mắt, vảy thứ sáu đến thứ tám lớn nhất. Vảy môi dưới 9/9, trong đó cặp thứ nhất nối rộng với nhau, cặp thứ nhất đến thứ năm nối với cặp tấm vảy cằm phía trước. Các cặp cằm phía trước và phía sau thon dài, cặp thứ hai nối nhau ở chính giữa, vảy thứ sáu lớn nhất. Vảy trước mắt 1/1, lớn. Vảy sau mắt 2/2, trong đó các vảy dưới nhỏ hơn, bao quanh vảy thái dương. Vảy trước thái dương 1/1, thon dài. Vảy sau thái dương 2/2. Vảy lưng xếp thành 19-19-15 hàng, hàng vảy lưng trên có gờ. Số vảy lưng có gờ phía trước 9. Vảy giữa lưng có gờ 11. Vảy lưng có gờ ở phía sau 11. Vảy trước bụng 2 và 200 vảy bụng. Vảy huyệt nguyên. 112 dưới đuôi, không phân chia. Cơ quan sinh dục hơi dày, ngắn, có gai, không đan chéo, chạm đến vảy dưới đuôi thứ năm và sáu.
Màu sắc trong tự nhiên: Mặt lưng màu xanh lá cây sáng có chót vàng nâu ở đuôi. Môi trên có màu xanh lá cây vàng. Mặt bụng phía trước màu vàng xanh lá cây và mặt bụng phía sau màu xanh lá cây sáng. Chót đuôi màu vàng nâu nhạt ở mặt bụng của nó. Các vảy bụng phía ngoài có gờ bên thường có màu trắng vàng. Con ngươi màu xanh lá cây vàng.
Gonyosoma iadinum khác hình thái với các loài cùng giống ở Việt Nam bởi những điểm sau:
Rất giống hai loài Gonyosoma coeruleum và Gonyosoma prasinum.
Gonyosoma iadinum khác với loài Gonyosoma coeruleum bởi vảy huyệt không phân chia (so với phân chia) và cơ quan sinh dục đực ngắn, có gai, chạm vảy dưới đuôi thứ năm và thứ sáu (so với dài, có gay yếu, chạm vảy dưới đuôi thứ 13).
Gonyosoma iadinum khác với loài Gonyosoma prasinum các hàng vảy trên lưng có gờ yếu (so với vảy mượt), có nhiều vảy bụng và dưới đuôi ở con đực hơn (310 – 312 so với 298 – 308), chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt lớn hơn ở con đực (807 mm so với 650 mm), mặc dù chiều dài này ở con cái lại ngắn hơn (780 mm so với 1050 mm).
Gonyosoma iadinum khác với loài Gonyosoma boulengeri bởi không có một vảy mũi phụ (so với vảy mõm phân biệt với vảy mũi phụ) và không có sọc thâm sau mắt (so với một sọc mờ phía sau mắt)
Gonyosoma iadinum khác với loài Gonyosoma frenatum bởi có một vảy má (so với vảy má kèm vảy trước trán) và không có sọc đen dọc mặt bên của đầu (so với có một sọc đen dọc mặt bên của đầu chạy lên trên vảy môi trên).
Gonyosoma iadinum khác với loài Gonyosoma oxycephalum bởi có 19 hàng vảy giữa thân (so với 23 – 27), đuôi màu xanh lá cây có chót màu vàng nâu (so với toàn bộ đuôi màu hạt dẻ sáng hoặc đỏ lông bò hoặc nâu vàng), không có sọc đen dọc mặt bên của đầu (so với có một sọc đen mờ dọc mặt bên của đầu ngay trên môi trên.
Sinh học, sinh thái:
Loài được tìm thấy trong các khu rừng thường xanh trên độ cao 1.200 m. Thức ăn các loài Bò sát, lưỡng cư và thú gặm nhấm nhỏ sống trong khu vực phân bố. Đẻ trứng trong các hốc cây mục trong rừng vào đầu mùa mưa hàng năm.
Phân bố:
Trong nước: Vườn quốc gia Chư Yang Sin ở xã Bong Krang, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, Việt Nam, ở tọa độ (12.39328°B, 108.34684°Đ).
Nước ngoài: Lào.
Giá trị:
Loài đặc hữu Đông Dương. Tên loài “iadinum” là một tính từ Latin, được tạo ra từ dạng Latin hóa của từ Hy Lạp cổ ἰαδίνως (iadinos), có nghĩa là “ngọc bích (jade)”. Tên loài này được đặt để nhắc đến màu vàng-xanh đặc trưng của mống mắt ở loài mới, cũng như màu xanh tổng thể của cơ thể giống với những viên ngọc bích được mài bóng.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin thuộc Đắk Lắk, nên ít bị xâm hại và sinh cảnh được bảo vệ tốt.
Biện pháp bảo vệ:
Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động xâm lấn đất rừng. Nhân nuôi sinh sản phục vụ nhu cầu của thị trường nhằm giảm thiểu săn bắt từ tự nhiên.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm lông
Tên tiếng Anh:Psyche
Tên Latin:Leptosia nina
Rắn roi mũi nhọn
Tên tiếng Anh:Dark whip snake
Tên Latin:Ahaetulla fusca
Hoàng liên gai
Tên tiếng Anh:Wintergreen barberry
Tên Latin:Berberis julianae
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae