Cóc pagio
| Tên tiếng Anh: | Pageot's mountain toad |
|---|---|
| Tên Latin: | Bufo pageoti |
| Đồng danh: | Bufo burmanus Andersson, 1939 |
| Đồng danh: | Phrynoidis burmanus Fei et al., 2005 |
| Đồng danh: | Torrentophryne burmanus Yang, 2008 |
| Đồng danh: | Duttaphrynus pageoti Liedtke et al., 2016 |
| Tên khác: | Cóc núi sapa |
- Độ cao so mặt nước biển 1500 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Hà Tĩnh Lào Cai Quảng Nam Vườn quốc gia Hoàng Liên, Việt Nam Vườn quốc gia Vũ Quang, Việt Nam
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
CÓC PA GIÔ
Bufo pageoti Bourret, 1937
Bufo burmanus Andersson, 1939
Phrynoidis burmanus Fei et al., 2005
Torrentophryne burmanus Yang, 2008
Duttaphrynus pageoti Liedtke et al., 2016
Họ: Cóc rừng Bufonidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Loài cóc có kích thước trung bình 45 mm. Toàn thân nâu vàng với vài nốt đen sẫm ở phần đầu nhất là một nốt đen hình V ngược nằm ở khoảng giữa hai tuyến mang tai. Da ráp, sần sùi với nhiều mụn tròn nhỏ rải rác khắp trên lưng và các chi. Bụng có mầu sáng hơn lưng với nhiều lấm tấm đen kể cả dưới đùi và cánh tay. Đầu nhỏ, gờ mõm rõ, không có gờ sương trên sọ, có tuyến mang tai. Khoảng giữa hai mắt phẳng, rộng hơn mí mắt trên. Màng nhĩ rõ, bằng 3/4 đường kính mắt. Chân tay mảnh, đầu các ngón tròn, không phình thành đĩa. Hai củ dưới bàn tay và bàn chân rõ, mầu vàng sáng.
Sinh học, sinh thái:
Đây là loài cóc ưa sống ở các vùng rừng nguyên sinh, ẩm, kín tán với độ cao trên 300m chủ yếu ven các suối nước.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Sa Pa), Hà Tĩnh (Hương Sơn), Quảng Nam (Trà My)
Nước ngoài: Chỉ có ở Việt Nam.
Giá trị:
Có giá trị khoa hoc. Từ 1937 cho đến vài năm gần đây (1999 – 2000) mới có thêm thông tin về loài này.
Tình trạng:
Diện tích phân bố của loài ước tính <5.000km2, nơi cư trú bị chia cắt mạnh. Trước 1995 chỉ có một quần thể duy nhất ở Sa Pa được ghi nhận theo tài liệu cũ (Bourret, 1942). Cho đến nay đã có thêm 2 quần thể nữa được ghi nhận (Hương Sơn và Trà My) với số lượng không lớn. Số lượng loài đang bị đe doạ do nguyên nhân chủ yếu là nơi cư trú bị xâm hại và chất lượng nơi cư trú ngày càng suy giảm (rừng bị tàn phá, bị thu hẹp dần, đất rừng bị xói mòn).
Biện pháp bảo vệ:
Biện pháp chung để bảo vệ là hạn chế đến mức thấp nhất việc khai thác, tàn phá rừng làm xâm hại đến nơi cư trú của loài.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2007 – phần động vật – trang 264.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Lan hài việt nam
Tên tiếng Anh:Vietnam slipper orchid
Tên Latin:Paphiopedilum vietnamense
Bướm hổ vằn
Tên tiếng Anh:Common tiger
Tên Latin:Danaus genutia
Choắt mỏ thẳng đuôi vằn
Tên tiếng Anh:Bar-tailed godwit
Tên Latin:Limosa lapponica
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae