Cóc nước lima
| Tên tiếng Anh: | Green puddle frog |
|---|---|
| Tên Latin: | Occidozyga lima |
| Đồng danh: | Bombinator lima Schlegel, 1826 |
| Đồng danh: | Rana lima Gravenhorst, 1829 |
| Đồng danh: | Houlema obscura Gray, 1831 |
| Đồng danh: | Oxyglossis lima Smith, 1916 |
| Tên khác: | Ếch bùn xanh |
- Độ cao so mặt nước biển 700 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Ấn Độ Trung Quốc Myanmar Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Hầu khắp Đông nam Á Hầu khắp Việt Nam Bangladesh Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Bắc Giang
- Môi trường sống Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng khộp Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
CÓC NƯỚC LIMA
Occidozyga lima Gravenhorst, 1829
Bombinator lima Schlegel, 1826
Rana lima Gravenhorst, 1829
Houlema obscura Gray, 1831
Oxyglossis lima Smith, 1916
Họ: Ếch nhái thực Dicroglossidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Cơ thể có kích thước nhỏ. Đầu bé, mõm hẹp vượt quá hàm dưới, không có gờ mõm. Không có răng lá mía, lưỡi dài hẹp, nhọn ở sau. Mắt lớn và lồi, đường kính mắt lớn hơn gian ổ mắt và chiều rộng mí mắt trên. Lỗ mũi gần ở trung gian giữa mắt và mút mõm, hơi hướng lên trên. Màng nhĩ ẩn. Ngón tay I bằng ngón II và IV, ngón III dài nhất; giữa các ngón tay có ½ đến 2/3 màng. Màng giữa các ngón chân rất rộng, hoàn toàn. Mút ngón chân hơi nhọn. Củ cạnh ngoài bàn chân tròn, cao; củ trong thành nếp nhô cao. Có nếp hạt ở cổ chân. Khớp chày – cổ đến mép miệng, khớp cổ – bàn gần chạm mũi.
Da nổi hạt to nhỏ không đều, ở mõm có hạt nhỏ. Lưng và đầu màu xanh hay nâu vàng nhạt, có sọc lớn giữa lưng từ mút mõm đến huyệt. Mặt trên chi trước, chi sau màu xanh nhạt điểm các vệt nâu sẫm. Bụng màu trắng nhạt. Có vệt nâu sẫm từ nách đến bàn tay và từ gốc hai đùi đến khớp gối.
Sinh học, sinh thái:
Kiếm ăn ban đêm, xuất hiện ở các khu vực các kiểu rừng từ nguyên sinh đến thứ sinh ven suối hay khu vực đầm lầy, các vũng nước đọng trong rừng. Thức ăn là các loài côn trùng sống trong khu vực sinh sống. Đẻ trứng vào tháng mùa mưa hằng năm ở các con suối và nòng nọc phát triển ở đó. Vòng đời biến thái hoàn toàn của loài này cũng như các loài Lưởng cư khác, xảy ra các giai đoạn Trứng (đẻ dưới nước) – Nòng nọc (sống hoàn toàn dưới nước, ăn thực vật, thở bằng mang, di chuyển bằng đuôi và sống bầy đàn) – Trưởng thành (sống trên cạn, ăn động vật, di chuyển bằng chân, thở bằng phổi và sống đơn độc).
Phân bố:
Trong nước: Loài này phân bố rộng hầu khắp các tỉnh ở Việt Nam trong từng thường xanh đến 600m và cả ở khu vực đất nông nghiệp.
Nước ngoài: Trung Quốc, Bangladesh, Cambodia, Ấn Độ, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Thailand.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.
Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Cam biển
Tên tiếng Anh:Sea orange
Tên Latin:Pleiospermium littorale
Bào ngư chín lỗ
Tên tiếng Anh:Variously coloured abalone
Tên Latin:Haliotis diversicolor
Nhông cường
Tên tiếng Anh:Cuong's green pricklenape
Tên Latin:Acanthosaura cuongi
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae