TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cóc nhà

Tên tiếng Anh: Asian common toad
Tên Latin: Duttaphrynus melanostictus
Đồng danh: Ansonia kamblei Ravichandran & Pillai, 1990
Đồng danh: Bufo bengalensis Daudin, 1802
Đồng danh: Bufo camortensis Mansukhani & Sarkar, 1980
Đồng danh: Bufo carinatus Gray, 1830
Tên khác: Cóc châu á
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CÓC NHÀ

Duttaphrynus melanostictus (Schneider, 1799)
Ansonia kamblei Ravichandran & Pillai, 1990
Bufo bengalensis Daudin, 1802
Bufo camortensis Mansukhani & Sarkar, 1980
Bufo carinatus Gray, 1830
Họ: Cóc rừng Bufonidae
Bộ: Không đuôi Salientia

Đặc điểm nhận dạng:
Mẫu vật nghiên cứu: Cá thể đực trưởng thành TYT 2012.37 (SVL 64,38 mm). Mõm tròn, nhô về phía trước so với hàm dưới; gờ mõm rõ, vùng má xiên; vùng giữa 2 ổ mắt lõm; khoảng cách gian ổ mắt bằng khoảng 1,5 lần chiều rộng mí mắt trên (IOD 7,69 mm; UEW 5,01 mm); gờ mõm và gờ sọ rõ; gờ sau ổ mắt và gờ ổ mắt – màng nhĩ rõ; tuyến mang tai rất phát triển; mắt lớn; lỗ mũi tròn, nằm gần mút mõm hơn so với mắt; màng nhĩ rõ, đường kính màng nhĩ bằng khoảng 2/3 lần đường kính mắt (TD 5,12 mm, ED 7,06 mm); không có răng lá mía.
Chi khỏe, các ngón tay tự do, ngón tay I dài hơn ngón II; ngón chân khoảng 1/3 có màng; củ bàn trong dài hơn củ bàn ngoài; khi gập dọc thân khớp cổ – bàn chạm tới ổ mắt. Trên thân và chi có các mụn to nhỏ không đều, các mụn ở giữa lưng thường lớn hơn và bé dần sang hai bên, đầu các mụn thường đen. Mặt trên thân màu vàng sẫm, đôi khi xám nhạt; bụng trắng bẩn với các vệt đen; mút các ngón tay, ngón chân màu đen, các gờ sọ màu xám đến đen.
Sinh học, sinh thái:
Cóc sống ở quanh nhà, trên nương bãi quanh bản làng, trong những hốc nhỏ, khô ráo, kín gió có sẵn như khe tường, đống gạch, góc tường, gậm giường. Hang cóc là nơi trú ẩn của cóc về ban ngày và trong mùa đông giá lạnh. Trong hang cóc có thể có 2 – 5 con, đôi khi lên đến 10 con. Lúc khí trời ấm, Cóc nhảy ra đi kiếm ăn từ xẩm tối. Cóc ăn nhiều loại thức ăn như kiến đen, châu chấu, nhện, gián, bọ xít, sâu non, giun đất, cuốn chiếu, chuồn chuồn, ruồi, nhặng, muỗi và các loài bướm đêm.
Mùa sinh sản của Cóc thay đổi tuỳ từng vùng, thường là vào tháng 11 – 2 đến tháng giêng, có khi sang cả tháng 2, có nơi vào tháng 3 – 4, có nơi vào tháng 5 – 6. Cóc đẻ nhiều lứa trong một năm. Cóc đẻ trứng trong nước ao, chuôm, ruộng hay rãnh nước hoặc bờ suối. Sau 3 ngày, trứng nở thành nòng nọc màu đen. Khi đuôi teo đi và nòng nọc mọc chân thì màu đen biến mất.
Phân bố:
Trong nước: Loài này sống phổ biến khắp nơi từ Bắc tới Nam.
Nước ngoài: Hầu khắp các quốc gia Đông nam châu Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar và nhiều nước châu Á khác.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì săn bắt, nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae