Cóc mày sapa
| Tên tiếng Anh: | Chapa spadefoot toad |
|---|---|
| Tên Latin: | Leptobrachium chapaense |
| Đồng danh: | Leptobrachium hasselti chapaensis (Bourret, 1937) |
| Đồng danh: | Megophrys hasseltii chapaensis Bourret, 1937 |
| Đồng danh: | Leptobrachium hasselti chapaensis (Bourret, 1937) |
| Đồng danh: | Megophrys hasseltii chapaensis Bourret, 1937 |
| Tên khác: | Cóc mày fan fan |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Lào Thái Lan Trung Quốc Myanmar Lạng Sơn Hà Giang Lào Cai Ninh Bình Thanh Hóa Thừa Thiên - Huế Vườn quốc gia Hoàng Liên, Việt Nam Vườn quốc gia Bạch Mã, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Kiếm ăn ở môi trường nước ngọt Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
CÓC MÀY SAPA
Leptobrachium chapaense (Bourret, 1937)
Leptobrachium hasselti chapaensis (Bourret, 1937)
Megophrys hasseltii chapaensis Bourret, 1937
Họ: Cóc bùn Megophryidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Loài lưỡng cư có kích thước trung bình, con đực 53,5 – 65,5 mm, con cái 58,7 – 79,9mm. Lưng màu nâu sẫm với những đốm màu da cam bên mông, sườn và các chi. Mặt dưới các chi đen với những đốm và vệt trắng ở đùi và gót chân. Bụng xám với các vết màu trắng khá rõ, ngực và họng lốm đốm đen trắng. Tuyến nách ở sau khớp cánh tay. Đầu nhỏ rộng, dẹt, màng nhĩ nhỏ bằng ½ đường kính mắt. Mắt lồi, đường kính mắt bằng dài mõm. Nửa trên con người màu trắng. Ngón tay dài, đầu các ngón có màu trắng, không phình. Màng chân chỉ có ở kẽ ngón. Củ bàn trong to, không có củ bàn ngoài. Hình thái trong tự nhiên loài Leptobrachium chapaense rất giống với loài Leptobrachium promustache.
Hai loài khác nhau ở các đặc điểm sau:
Con đực của Leptobrachium promustache có gai môi trên (không có ở loài Leptobrachium chapaense). Màng nhĩ mờ ở loài Leptobrachium promustache nhưng rõ ở loài Leptobrachium chapaense. Vệt sáng ở vùng ngực xuất hiện ở Leptobrachium chapaense nhưng không có ở Leptobrachium promustache. Củ bàn chân trong lớn, hình vòm, lớn hơn củ bàn chân ngoài ở loài Leptobrachium promustache nhưng ở loài Leptobrachium chapaense thì kích thước hai củ bàn chân gần như bằng nhau và dạng tròn. Tuyến đùi mờ ở Leptobrachium promustache nhưng rõ ở Leptobrachium chapaense. Leptobrachium promustache có màng bơi chân trước chạm đến củ đốt thứ hai của ngón thứ ba trong khi màng bơi của loài Leptobrachium chapaense lại nằm ở vị trí đáy của ngón thứ ba chân sau. Mõm của Leptobrachium promustache tròn và vùng má nghiêng, còn mõm của loài Leptobrachium chapaense xén cụt hơn và vùng má ít nghiêng hơn.
Sinh học, sinh thái:
Gặp ở các nơi suối chảy mạnh trong rừng mưa hỗn giao, độ dốc lớn độ cao lên đến 400m (Tam Đảo) hoặc cao hơn 1.000m (Sapa). Tiếng kêu của loài này khá lớn, trước khi kêu lớn chúng thường một con kêu và cả bầy đều đồng thanh kêu rất ồn ào. Loài này sinh sản từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm. Trừng đẻ thành khối lớn, nhày và trong khoảng vài trăm trứng màu xám đen bám vào các hốc, ngách ở các tảng đá chìm dưới mép nước. Nòng nọc khá lớn, đầu và bụng khá to có thể dài 40mm màu xám tím.
Phân bố:
Trong nước: Miền Bắc Việt Nam Hà Giang, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn, Ninh Bình, Thanh Hoá, Huế (Bạch Mã).
Nước ngoài: Lào (Chiang Mai và Tak), Thái Lan (miền đông bang Shan), Myanmar (dãy núi Hengduanshan), Trung Quốc (ở miền Nam Vân Nam – Mạnh Tử, Cận Bình và Pingbian).
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:003
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Rắn khiếm trung quốc
Tên tiếng Anh:Chinese kukri snake
Tên Latin:Oligodon chinensis
Chuột chù nước miền bắc
Tên tiếng Anh:Himalayan water shrew
Tên Latin:Chimarrogale himalayica
Bướm quạ cánh trước xanh đậm
Tên tiếng Anh:Long branded blue crow
Tên Latin:Euploea algea
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae