TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm Văn Anh

Cóc mày parva

Tên tiếng Anh: Brown horn frog
Tên Latin: Megophrys parva
Đồng danh: Xenophrys parva (Boulenger, 1893)
Đồng danh: Leptobrachium parvum Boulenger, 1893
Đồng danh: Panophrys parva Rao and Yang, 1997
Đồng danh: Boulenophrys parva Dubois, Ohler, and Pyron, 2021
Tên khác: Cóc mày mắt bé
  • Độ cao so mặt nước biển 2200 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CÓC MÀY PARVA

Megophrys parva (Boulenger, 1893)
Xenophrys parva (Boulenger, 1893)
Leptobrachium parvum Boulenger, 1893
Panophrys parva Rao and Yang, 1997
Boulenophrys parva Dubois, Ohler, and Pyron, 2021
Họ: Cóc bùn Megophryidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 40.4 – 41.7 mm ở con đực và 40 – 54.8 mm ở con cái. Đầu rộng hơn dài. Rộng đầu 15.3 – 16.7 mm ở con đực và 16.2 – 20.4 mm ở con cái. Dài đầu 15.1 – 16.5 mm ở con đực và 16.8 – 20.3 mm ở con cái. Mõm ngắn, nhọn. Đường kính mắt nhỏ hơn dài mõm. Đường kính mắt 5 – 5.3 mm và dài mõm 5.1 – 6 mm ở con đực, còn con cái theo thứ tự là 5.1 – 6 mm và 5.3 – 6.3 mm. Lười tròn về phía sau. Răng lá mía xuất hiện. Màng nhĩ rõ. Nếp màng nhĩ trên rõ. Không có sừng da trên mi mắt. Chân trước mảnh. Dài cẳng chân 10.4 – 11.8 mm ở con đực và 11.4 – 13.3 mm ở con cái. Ngón chân không có riềm da, không màng bơi. Chân sau thon dài và chắc khoẻ. Dài đùi 20.4 – 23.5 mm ở con đực và 22 – 27.6 mm ở con cái. Dài ống chân 22.3 – 23.5 mm ở con đực và 23.1 – 29.8 mm ở con cái. Khớp cổ chân chạm mắt. Ngón cái không có riềm da. Công thức màng chân: I1 – 1 ½ II1 – 2 ½ III2 – 3IV3 – 1 1/2 V.
Mặt lưng và hông có nổi hột rải rác. Phần ngoài của lưng có riềm cong không liên tục. Mặt bụng mịn. Mặt lưng của thân màu nâu đỏ sáng, có vệt hình tam giác sẫm màu ở gian ổ mắt và vệt lưng hình chữ X đậm, mép có màu sáng.
Sinh học, sinh thái:
Sống bên bờ suối ở độ cao 1.003 – 1.397 m, trong rừng hỗn giao giữa gỗ cứng, giang nứa và cây bụi. Thức ăn là những loài côn trùng, giáp xác sống trong khu vực và cả các loài cá, ếch nhỏ. Đẻ trứng dưới nước vào những cơn mưa đầu mùa, nòng nọc phát triển giống như các loài lưỡng cư có vòng đời biến thái hoàn toàn khác.
Phân bố:
Trong nước: Hà Giang, Lào Cai. Loài mới được ghi nhận ở Việt Nam năm 2023.
Ngoài nước: Bangladesh, Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loài: Phạm Vân Anh, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae