Cóc mày ngọc linh
| Tên tiếng Anh: | Ngoc Linh's spadefoot toad |
|---|---|
| Tên Latin: | Leptobrachium ngoclinhense |
| Đồng danh: | Vibrissaphora ngoclinhensis Orlov, 2005 |
| Đồng danh: | Vibrissaphora ngoclinhensis Orlov, 2005 |
| Đồng danh: | Vibrissaphora ngoclinhensis Orlov, 2005 |
| Đồng danh: | Vibrissaphora ngoclinhensis Orlov, 2005 |
| Tên khác: | Cóc mày ngọc linh |
- Độ cao so mặt nước biển 2100 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Kontum Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, Kontum Đắk Lắk Vườn quốc gia Chu Yang Sin, Việt Nam
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
- Tình trạng bảo tồn Nguy cấp EN: Endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn
- Sinh thái Loài đặc hữu Việt Nam Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
CÓC MÀY NGỌC LINH
Leptobrachium ngoclinhense (Orlov, 2005)
Vibrissaphora ngoclinhensis Orlov, 2005
Họ: Cóc bùn Megophryidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
….
Sinh học, sinh thái:
Sống trong rừng thường xanh ở độ cao từ 1.700 đến 2.100 m, bên bờ suối trong rừng thứ sinh hỗn giao giữa gỗ cứng trung bình, cây bụi và le, nứa. Thức ăn là những loài côn trùng, giáp xác sống trong khu vực và cả các loài cá, ếch nhỏ. Đẻ trứng dưới nước vào những cơn mưa đầu mùa, nòng nọc phát triển giống như các loài lưỡng cư có vòng đời biến thái hoàn toàn khác.
Phân bố:
Trong nước: Loài đặc hữu Việt Nam, phát hiện năm 2005 ở Kontum (Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh), Đắk Lắk (Vườn quốc gia Chư Yang Sin)
Nước ngoài: Không có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện chỉ ghi nhận phân bố ở 2 tỉnh Kon Tum và Đắk Lắk. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 570 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 2; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp.
Phân hạng: EN B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài nằm trong KBTTN Ngọc Linh (Kontum) và VQG Chư Yang Sin (Đắk Lắk) nên được bảo vệ. Nhưng vẫn rất cần bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống của loài..
Mô tả loài:Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Quắm lớn
Tên tiếng Anh:Giant ibis
Tên Latin:Pseudibis gigantea
Tuế balansa
Tên tiếng Anh:Balansa's sago
Tên Latin:Cycas balansae
Cát cánh
Tên tiếng Anh:Balloon Flower
Tên Latin:Platycodon grandiflorus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae