TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cóc mày mắt trắng

Tên tiếng Anh: White - eyed litter frog
Tên Latin: Leptobrachium leucops
Đồng danh: Leptobrachium leucops Jody et al., 2012
Đồng danh: Leptobrachium leucops Jody et al., 2012
Đồng danh: Leptobrachium leucops Jody et al., 2012
Đồng danh: Leptobrachium leucops Jody et al., 2012
Tên khác: Cóc mắt trắng bidoup
  • Độ cao so mặt nước biển 2000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CÓC MÀY MẮT TRẮNG

Leptobrachium leucops Jody et al., 2012
Họ: Cóc bùn Megophryidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng:
Loài lưỡng cư kiếm ăn đêm này có cơ thể khá mập mạp, hơi thon về phía hông. Đầu rộng và dẹp (chiều dài và chiều rộng gần bàng nhau); mõm tròn (theo hướng lưng bụng) và dốc nghiêng (theo hướng mặt bên), có chiều dài gần bằng với đường kính mắt; mũi gần mõm hơn gần mắt; mắt to, hơi nhô, khoảng cách giữa 2 mắt gần bằng với chiều rộng của mí mắt; màng nhĩ không thấy rõ, tròn, có đường kính khoảng 40% đường kính mắt, khoảng cách giữa mắt và màng nhĩ nhỏ hơn đường kính màng nhĩ; không có răng lá mía, lưỡi to, hình trái tim, có rãnh ở phía sau.
Chân trước mảnh khảnh, các ngón không có màng bơi; chiều dài tương đối của các ngón tay: II=IV<I<III; đầu các ngón cùn, hơi phình to ở đầu ngón tay I &; không có chai tay. Chân sau mảnh khảnh và hơi ngắn; đầu các ngón chân cùn, hơi phình to; chiều dài tương đối của các ngón chân: I<II<III = V<IV; mấu lồi trong rõ, hình oval, có chiều dài khoảng 70% chiều dài ngón chân I; không có mấu lồi ngoài. Da lưng trơn láng với mạng lưới nếp da mảnh, phía sau lưng có các hạt nhỏ, đặc biệt là vùng gần hậu môn; nếp trên màng nhĩ kéo dài từ sau mắt tới vai; bụng có hạt, mặt bụng của các ngón trơn láng; tuyến nách tròn, nằm ở phía hông bụng, hơi phía sau vị trí nách; tuyến đùi rõ, tròn nằm ở mặt sau đùi, khoảng giữa đầu gối và hậu môn.
Lưng có màu xám sậm, với các vệt hình chũ Y mầu nâu sậm, kéo dài từ phía trên mí mắt tới phần sau của lưng, có viền màu kem, với các vệt nhỏ hơn, có hình dạng không nhất định, màu thay đổi từ nâu sậm tới đen, viền màu kem; phần trên hông màu nâu sậm với các vệt đen viền kem hoặc trắng, phần dưới hông màu xám sậm với nhũng đốm tròn trắng, nhỏ; mặt trên của chân trước có màu nâu với các vạch xám sậm và màu kem; mặt trên của chân sau màu trắng hoặc trắng kem với các vạch xám sậm và đen; mắt màu đen với 1/3 phía trên của con ngươi có màu trắng, vòng cung màu xanh dương (thấy khi vạch màng mắt, nằm ở góc sau của mắt). Trên mép môi trên cho tới mõm và từ mép môi trên tới bờ sau của mắt có vạch màu nâu; 1 vệt màu đen nằm bên dưới mắt và nếp da trên màng nhĩ, bao phủ cả màng nhĩ; mặt dưới của cơ thể và chân có màu từ xám – đỏ tía tới xám sậm, vùng cằm, ngực, bụng và vùng kéo dài từ phía trên tới bờ ngoài mặt dưới của các chân có các đốm nhỏ màu đen và các đốm tròn trắng trên các mấu; tuyến nách và tuyến đùi có màu trắng kem.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở khu rừng rừng thường xanh núi cao, ở độ cao khoảng 1.558 – 1.900m nơi có lớp thảm mục thực vật dày và ẩm. Chỉ xuất hiện vào ban đêm, mùa mưa. Thức ăn là các loài côn trùng sống trong khu vực. Đôi khi thấy chúng ban ngày nằm trong các gốc cây mục, thân gỗ mục trong rừng. Leptobrachium leucops phân biệt với các loài Leptobrachium khác bởi kích thước nhỏ (con đực có chiều dài khoảng 38,8 – 45,2mm), khoảng 1/3 phía trên của con ngươi có màu trắng; mặt bụng có màu sậm. Tiếng kêu của loài này, bao gồm 1 – 5 nốt, kéo dài khoảng 122 – 1.699ms, với tần số khoảng 1.033,6 – 155Hz
Phân bố:
Trong nước: Loài đặc hữu Việt Nam, phát hiện và công bố năm 2012 ở đỉnh núi Bà thuộc Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà và trên cao nguyên Langbian, thuộc ranh giới giữa 2 tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa, Ninh Thuận và Đắk Nông
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Đắk Nông. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 7.600 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố 4; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp hoặc du lịch.
Phân hạng: VU B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Một phần vùng phân bố của loài nằm trong Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà (Lâm Đồng), Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà (Khánh Hoà); Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng (Đắk Nông) và Vườn quốc gia Phước Bình (Ninh Thuận) nên được bảo vệ. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Tiến hành các biện pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên đồng thời tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống của loài.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae