Cóc mày bi đúp
| Tên tiếng Anh: | Bidoup litter toad |
|---|---|
| Tên Latin: | Leptolalax bidoupensis |
| Đồng danh: | Leptolalax bidoupensis Jody et al.,2011 |
| Đồng danh: | Leptolalax bidoupensis Jody et al.,2011 |
| Đồng danh: | Leptolalax bidoupensis Jody et al.,2011 |
| Đồng danh: | Leptolalax bidoupensis Jody et al.,2011 |
| Tên khác: | Cóc mày hòn giao |
- Độ cao so mặt nước biển 1700 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Khánh Hòa Lâm Đồng Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Việt Nam
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
- Tình trạng bảo tồn Nguy cấp EN: Endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn
- Sinh thái Loài đặc hữu Việt Nam Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
CÓC MÀY BI ĐÚP
Leptolalax bidoupensis Jody et al.,2011
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Loài lưỡng cư mới phát hiện có những đặc điểm khác biệt với các loài khác trong cùng giống nhờ vào các đặc điểm như sau mặt bụng có màu đỏ nâu đậm với các đốm trắng nằm kháp trên phần cổ họng, mặt dưới của tay và chân và có kích thước nhỏ, từ 23.6 – 24.6 mm ở con đực trưởng thành (đo ở 4 cá thể) và 29.2 – 29.4 mm ở con cái trưởng thành (đo ở 2 cá thể); mống mắt có hai màu, nửa trên màu đồng đỏ và nửa dưới ngả sang màu xám đỏ; da gần như trơn láng không có các nếp gấp da; xương chày tương đối ngắn.
Leptolalax bidoupensis có tiếng kêu rất khác biệt với những tiếng kêu đã từng được ghi nhận ở các loài Leptolalax, gồm 6 – 9 nốt đơn với tần số khoảng 1.9 – 3.8Khz. So với hai loài tương tự về hình thái L. applebyi và L. melicus, L. bidoupensis co mức độ sai khác về trình tự gen khoảng 9.3% và 9.6%. Hiện tại loài mới này được ghi nhận ở những khu rừng thường xanh, ở độ cao 1620 – 1730 m so với mực nước biển, trong diện tích 1 cây số vuông. Đề nghị bổ sung loài này vào mục Dữ liệu thiếu của sách đỏ IUCN.
Loài này có đầu hơi dài hơn rộng; mõm tròn nhìn từ phía mặt lưng, tròn và hơi nhô khi nhìn ở mặt hông; Mũi nằm gần mõm hơn mắt; mắt nhỏ hơn chiều dài mõm, con ngươi năm ngang; Màng nhĩ rõ, tròn, nhỏ hơn đường kính mắt, viền của màng nhĩ hơi nhô lên so với vùng xung quanh. Không có răng lá mía; túi kêu mở ra ỏ phía sau hai bên của vòm miệng; lưỡi dài, chiều rộng vừa phải, phía sau có 1 rãnh hình chữ V. Tuyến trên màng nhĩ, chạy từ mắt hướng tới tuyến nách; đầu các ngón tay tròn, không phình to; chiều dài tương đối của các ngón tay như sau: I<II=IV<III; không có chai tay; các mấu lồi ở các khớp ngón không hiện diện; mấu lồi trong ở bàn tay tròn, tách biệt với mấu lồi ngoài, dẹp. Các ngón tay không có màng bơi hay riềm da bên. Các đầu ngón chân tương tự các đầu ngón tay, chiều dài tương đối của các ngón chân : ngón I < II < V < III < IV. Mấu lồi dưới khớp không hiện diện và được thay thế bằng các nếp da, dễ nhận thấy ở ngón chân thứ II, III, IV và V. Ngón chân có màng bơi ở gốc, với các riềm da mảnh ở 2 bên.
Loài này có xương chày hơi ngắn, chắc, chiều rộng bằng 1/3 chiều dài, xương chày có độ dài bằng 46% chiều dài thân, khớp xương cổ chân chạm mắt. Da lưng gần như trơn láng, có các nốt nhỏ rải rác, tập trung ở mi mắt, mặt bên bụng và mặt trên khớp cổ chân; da bụng trơn láng. Tuyến ngực hình trứng, có đường kính 1,2mm; tuyến đùi hình trứng, có đường kính 0,8mm nằm ở mặt dưới đùi, gần với đầu gối hơn lỗ huyệt. Tuyến trên nách nhô cao, đường kính khoảng 1.2 mm; một số tuyến hiện diện ỏ phân hông của bụng và lưng, tạo thành 1 đường không liên tục, đường này khó phân biệt với viền trắng ở hàm.
Sinh học, sinh thái:
Loài mới phát hiện năm 2011 và sống chủ yếu ở những khu rừng thường xanh, ở độ cao 1.620 – 1.730 m so với mực nước biển, trong diện tích 1 cây số vuông. Leptolalax bidoupensis có tiếng kêu rất khác biệt với những tiếng kêu đã từng được ghi nhận ở các loài Leptolalax, gồm 6 – 9 nốt đơn với tần số khoảng 1.9 – 3.8Khz. So với hai loài tương tự về hình thái L. applebyi và L. melicus, L. bidoupensis có mức độ sai khác về trình tự gen khoảng 9.3% và 9.6%. Loài này sống ở các khu vực ven suối và giao phối, đẻ trứng trong các vũng nước đọng
Phân bố:
Loài đặc hữu Việt Nam, mới phát hiện và công bố ở Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà năm 2011 ở cao nguyên miền Trung Việt Nam trên tạp chí Zootaxa 2796: 15 – 28 (2011).. Đây cũng là ghi nhận mới về phân bố của giống Leptolalax ở phía Nam. Đề nghị bổ sung loài này vào mục Dữ liệu thiếu của sách đỏ IUCN.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Phân hạng: EN B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen. Loài này đã được đưa vào sách đỏ Việt nam năm 2023.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Ốc kim khôi đỏ
Tên tiếng Anh:Bullmouth shell
Tên Latin:Cypraecassis rufa
Trà việt nam
Tên tiếng Anh:Vietnam Cemellia
Tên Latin:Camellia vietnamensis
Ếch suối
Tên tiếng Anh:Sapgreen stream frog
Tên Latin:Hylarana nigrovittata
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae