TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cóc mắt trường sơn

Tên tiếng Anh: Truongson horned toad
Tên Latin: Xenophrys truongsonensis
Đồng danh: Xenophrys truongsonensis Luong et al., 2022
Đồng danh: Xenophrys truongsonensis Luong et al., 2022
Đồng danh: Xenophrys truongsonensis Luong et al., 2022
Đồng danh: Xenophrys truongsonensis Luong et al., 2022
Tên khác: Cóc mắt cao nguyên
  • Độ cao so mặt nước biển 2000 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CÓC MẮT TRƯỜNG SƠN

Xenophrys truongsonensis Luong et al., 2022
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Loài lưỡng cư có kích thước tương đối lớn, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 58.8 – 71.4 mm ở con đực và 65.6 – 87.3 mm ở con cái. Đầu rộng hơn dài. Mõm xiên cụt ở chính diện, mút mõm nhô khỏi hàm dưới. Màng nhĩ nhỏ, rõ, hình bầu dục. Riềm ra chạy từ sau mắt qua màng nhĩ và kết thúc ở một mấu dày trên cẳng chân trước. Chân sau dài, có màng thô và hẹp giữa các ngón (bốn đốt của ngón thứ tư không màng), riềm da mặt bên chạy dọc đến đầu ngón. Củ bàn khớp của chân trước và sau tiêu biến và được thay thế bằng những riềm da mỏng dưới ngón. Củ bàn chân trong dẹp, củ bàn chân ngoài tiêu biến. Mặt lưng của thân có nổi hột mờ, một cặp riềm lưng bên và một riềm hình chữ X ở sau đầu chính giữa lưng. Một vài riềm không hoàn thiện chạy dọc các chân. Mí mắt trên có nốt sần nhọn nhỏ, rõ. Lưng eo chi chít nốt sần nhỏ. Mặt dưới của thân và của chân mịn. Có những cặp tuyến trắng trên ngực và đùi. Con đực không có gai mu ngón và túi kêu.
Xenophrys truongsonensis trước đây bị nhầm lẫn với loài Xenophrys maosonensis nhưng chúng khác nhau bởi hông có nốt sần nhỏ và đốm trắng nhỏ (so với có nốt sần lớn và đốm trắng lớn hơn ở Xenophrys maosonensis) Trong tự nhiên, mặt lưng của đầu và thân màu nâu hoặc nâu xám, có hoa văn đối xứng màu nâu đậm hơn nhưng viền sáng hơn, có một đốm hình tam giác giữa các mắt và một hoặc ít hơn hoa văn hình đồng hồ cát hoàn chỉnh giữa vai. Mặt bên của đầu có một vằn đậm ở mút mõm và trải rộng trên mũi, má, thái dương đến vai. Một sọc trắng đứt đoạn chạy từ sau mũi đến dưới màng nhĩ. Các chân màu nâu có vằn ngang màu nâu đậm, phía trước đùi màu nâu cam. Họng và ngực màu nâu tím, có đốm trắng viền thâm ở ngực. Bụng và mặt bụng của chân màu vàng trứng/ Háng màu nâu đỏ cam. Loài cóc này có màng bơi màu nâu và đầu ngón chân màu xám sáng. Đồng tử màu đồng ở trên và nâu ở dưới.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong rừng thường xanh thứ sinh hỗn giao cây gỗ trung bình và nhỏ với cây bụi ở độ cao 630 m đến 1.605 m. Nòng nọc dáng thon dài, cơ bắp đuôi khoẻ nhưng ít vảy. Miệng của chúng có đĩa tán bầu dục hướng lên trên. Chúng không có cấu trúc răng keratin hoá ở hàm. Chúng ăn thực vật phù du trong suối.
Phân bố:
Trong nước: Đắk Lắk, Đắk Nông, Kontum, Lâm Đồng, Ninh Thuận. Quảng Nam và Thừa Thiên Huế của Việt Nam.
Nước ngoài: Champasak và Sekong của Lào.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loàiNguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae