Cóc mắt trung gian
| Tên tiếng Anh: | Annam spadefoot toad |
|---|---|
| Tên Latin: | Brachytarsophrys intermedia |
| Đồng danh: | Megalophrys intermedius Smith, 1921 |
| Đồng danh: | Megalophrys intermedius Smith, 1921 |
| Đồng danh: | Megalophrys intermedius Smith, 1921 |
| Đồng danh: | Megalophrys intermedius Smith, 1921 |
| Tên khác: | Cóc mắt annam |
- Độ cao so mặt nước biển 1800 M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
CÓC MẮT TRUNG GIAN
Brachytarsophrys intermedia (Smith, 1921)
Megalophrys intermedius Smith, 1921
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Đầu hơi dẹp, rộng hơn dài và rộng hơn chiều rộng thân. Mõm gần tròn, phần mút mõm nơi tiếp xúc giữa gờ mõm và gờ môi trên tạo thành gờ nhọn. Gờ mõm, gờ má rõ, sắc, nối liền với mấu da trên mí mắt và kéo dài nối với nếp da sau mắt xuống phía trước gốc vai. Vùng má hơi lõm. Miệng rộng; răng lá mía mảnh, xếp gần thẳng, cách xa nhau, không chạm và vượt quá lỗ mũi trong. Lưỡi rộng, gần tròn, gốc lưỡi hẹp. Lỗ mũi ở phía bên, nằm gần mút mõm hơn mắt.
Màng nhĩ không rõ ràng. Mắt trung bình, gian ổ mắt rộng, đường kính ổ mắt bằng 0,79 lần gian ổ mắt và bằng 1,33 lần chiều rộng mí mắt trên. Chi mảnh, ngắn. Ngón tay I ngắn hơn ngón II và IV, ngón III dài nhất. Ngón chân có 1/3 màng da, củ bàn trong không rõ, không có củ bàn ngoài. Khớp chày – cổ đến góc hàm, khớp cổ – bàn chưa đến mắt. Trên lưng có nếp da mảnh ở hai bên phía sau đầu (ngang với mép miệng) kéo dài đến giữa thân; một nếp da khác ở mỗi bên sườn từ trên gốc vai đến giữa thân ngang với nếp trên lưng. Hai bên thân nổi các hạt màu trắng.
Trong dung dịch bảo quản: đầu và thân màu nâu nhạt, giữa lưng phần giới hạn giữa hai nếp da màu nâu sẫm; một vệt ngang mảnh sẫm màu giữa hai mắt; một vệt đen nhỏ ở phần cuối nếp da sau mắt. Mặt trên đùi, ống và cổ chân có 2 vệt sẫm, giữa các vệt có nếp da mảnh. Vùng họng, cằm và ngực màu nâu đen, phần bụng và dưới các chi đen nhạt hơn. Mút các ngón tay và chân đen nhạt.
Sinh học, sinh thái:
Kiếm ăn ban đêm, xuất hiện ở các khu vực rừng thường xanh núi cao từ 600 – 1000m. Thức ăn là các loài côn trùng, ếch nhái nhỏ sống trong khu vực sinh sống. Đẻ trứng vào tháng mùa mưa hằng năm ở các con suối và nòng nọc phát triển ở đó.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Bình, Thừa Thiên – Huế, Kontum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai.
Nước ngoài: Lào, Campuchia
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.
Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:003
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm lính thủy sọc trắng ngắn
Tên tiếng Anh:Short banded sailer
Tên Latin:Phaedyma columella
Vọoc đen má trắng
Tên tiếng Anh:François' langur
Tên Latin:Trachypithecus francoisi
Chuột chù đuôi trắng nam
Tên tiếng Anh:Southeast Asian shrew
Tên Latin:Crocidura fuliginosa
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae