TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:David M. Hillis

Cóc mắt mẫu sơn

Tên tiếng Anh: Mauson horned toad
Tên Latin: Xenophrys maosonensis
Đồng danh: Megophrys longipes maosonensis Bourret, 1937
Đồng danh: Megophrys (Panophrys) maosonensis Mahony et al., 2017
Đồng danh: Megophrys longipes maosonensis Bourret, 1937
Đồng danh: Megophrys (Panophrys) maosonensis Mahony et al., 2017
Tên khác: Cóc mắt sừng lạng sơn
  • Độ cao so mặt nước biển 1800 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CÓC MẮT MẪU SƠN

Xenophrys maosonensis Bourret, 1937
Megophrys longipes maosonensis Bourret, 1937
Megophrys (Panophrys) maosonensis Mahony et al., 2017
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt ở con đực 62.5 – 69.5 mm. Đầu hóp, rộng hơn dài. Đồng tử dọc. Mõm xiên cụt. Mũi gần mắt hơn mõm. Màng nhĩ rõ. Khoảng cách gian mắt hẹp hơn chiều rộng mí trên mắt. Chân trước: Đầu ngón u lồi, không màng bơi. Chân sau: Ngón dài, đầu ngón có u lồi, không có đĩa. Công thức màng bơi I2 – 2II2 – 3III3 – 4IV4 – 2V. Củ bàn chân trong dài. Không có củ bàn chân ngoài.
Màu sắc trong tự nhiên: Lưng màu nâu, có một vết hoa văn tam giác nâu đậm giữa các mắt. Mặt bên của đầu màu nâu đậm. Môi trên có sọc trắng chạy từ sau mũi đến vai. Nếp trên màng nhĩ có mép trắng. Mặt lưng của chân có vằn ngang đậm. Bụng trắng. Bangladesh, Myanmar, Lào, Thái Lan.
Xenophrys truongsonensis trước đây bị nhầm lẫn với loài Xenophrys maosonensis nhưng chúng khác nhau bởi hông có nốt sần nhỏ và đốm trắng nhỏ (so với có nốt sần lớn và đốm trắng lớn hơn ở Xenophrys maosonensis) Trong tự nhiên, mặt lưng của đầu và thân màu nâu hoặc nâu xám, có hoa văn đối xứng màu nâu đậm hơn nhưng viền sáng hơn, có một đốm hình tam giác giữa các mắt và một hoặc ít hơn hoa văn hình đồng hồ cát hoàn chỉnh giữa vai. Mặt bên của đầu có một vằn đậm ở mút mõm và trải rộng trên mũi, má, thái dương đến vai. Một sọc trắng đứt đoạn chạy từ sau mũi đến dưới màng nhĩ. Các chân màu nâu có vằn ngang màu nâu đậm, phía trước đùi màu nâu cam. Họng và ngực màu nâu tím, có đốm trắng viền thâm ở ngực. Bụng và mặt bụng của chân màu vàng trứng/ Háng màu nâu đỏ cam. Loài cóc này có màng bơi màu nâu và đầu ngón chân màu xám sáng. Đồng tử màu đồng ở trên và nâu ở dưới.
Sinh học, sinh thái:
Sống bờ suối trong rừng thường xanh thứ sinh hỗn giao cây gỗ trung bình và nhỏ với cây bụi ở độ cao 446 m. Nòng nọc dáng thon dài, cơ bắp đuôi khoẻ nhưng ít vảy. Miệng của chúng có đĩa tán bầu dục hướng lên trên. Chúng không có cấu trúc răng keratin hoá ở hàm. Chúng ăn thực vật phù du trong suối trong giai đoạn dưới nước và ăn động vật khi lên bờ.
Phân bố:
Trong nước: Từ Lào Cai đến Đồng Nai của Việt Nam.
Nước ngoài: Ấn Độ, Trung Quốc.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loàiNguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae