Cò mỏ thìa
| Tên tiếng Anh: | Black-faced spoonbill |
|---|---|
| Tên Latin: | Platalea minor |
| Đồng danh: | Platalea minor Temmincki & Schlegel, 1849 |
| Đồng danh: | Platalea minor Temmincki & Schlegel, 1849 |
| Đồng danh: | Platalea minor Temmincki & Schlegel, 1849 |
| Đồng danh: | Platalea minor Temmincki & Schlegel, 1849 |
| Tên khác: | Cò mỏ thìa mặt đen |
- Độ cao so mặt nước biển 100 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Đồng Nai Đồng Tháp Hải Phòng Nam Định Thái Bình Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Hầu khắp các tỉnh ở Nam Bộ Vườn quốc gia Xuân Thủy, Việt Nam Vườn quốc gia Tràm Chim, Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố Khu vực bán ngập nước, bãi bồi cửa sông, ven biển
- Tình trạng bảo tồn Nguy cấp EN: Endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Chim kiếm ăn ban ngày Ăn các loài côn trùng, giun, cá, lưỡng cư trong khu vực sống Kiếm ăn trên các bãi biển bờ biển, vùng triều, con sóng
CÒ MỎ THÌA
Platalea minor Temmincki & Schlegel, 1849
Họ: Cò quăm Threskiornithidae
Bộ: Bồ nông Pelecaniformes
Đặc điểm nhận dạng:
Bộ lông hoàn toàn có màu trắng. Trên đầu có một mào ngắn. Trán trụi lông và có màu đen. Trước mắt, một vòng hẹp xung quanh mắt, cằm và trên họng trụi lông, có một điểm vàng trước mắt. Mắt màu đỏ, mỏ xám chì có vằn đen ngang, chân màu đen pha màu đỏ.
Sinh học, sinh thái:
Di cư về nước ta vào mùa đông, kiếm ăn ở các bãi ngập triều ven biển ở các cửa sông. Các vùng ao nuôi trồng thuỷ sản, thường tập trung thành đàn, kiếm ăn dọc các con sông khi triều cạn hoặc các ao nuôi tôm rút nước Thức ăn là cá, các động vật thuỷ sinh nhỏ khác.
Phân bố:
Trong nước: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ. Mùa đông gặp ở các bãi triều ngập nước cửa sông Hồng, sông Đáy (Nam Định), cửa sông Thái Bình (Thái Bình), cửa sông Văn Úc (Hải Phòng) và Quảng Ninh (12/2001). Đôi khi gặp ở vùng Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Nước ngoài: Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Brunei, Campuchia, Phillipines.
Giá trị:
Là nguồn gen qúy hiếm cho khoa học, có giá trị thẩm mỹ cao, nơi chúng sinh sống sẽ phục vụ cho du lịch sinh thái.
Tình trạng:
Cò thìa là loài chim di cư trú đông hiếm, chủ yếu ghi nhận tại vùng ven biển Đông Bắc; sinh cảnh sống bi thu hẹp và suy thoái, quấy nhiễu do các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản; quần thể nhỏ, trong giai đoạn 1998 – 2022, mỗi năm ghi nhận từ 55 – 82 cá thể trú đông; số lượng cá thể ghi nhận ước tính < 250.
Phân hạng: EN C2a(i) + D.
Biện pháp bảo vệ:
Cò thìa có tên trong Nghị định số 64/2019/NĐ – CP và Nghị định số 84/2021/NĐ – CP của Chính phủ. Phần lớn sinh cảnh của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất điều tra, giám sát quần thể loài tại Việt Nam, xây dựng kế hoạch bảo tồn loài, bảo vệ và phục hồi sinh cảnh sống trong vùng phân bố tự nhiên của loài.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm loang
Tên tiếng Anh:Redbase Jezebel
Tên Latin:Delias pasithoe
Nhái bầu hòn giao
Tên tiếng Anh:Hongiao narrow - mouth frog
Tên Latin:Microhyla hongiaoensis
Bướm đêm hoàng đế sapa
Tên tiếng Anh:Celestial moon moth
Tên Latin:Actias chapae
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae