TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Chuột chù nhắt

Tên tiếng Anh: Etruscan shrew
Tên Latin: Suncus etruscus
Đồng danh: Pachyura etrusca (Savi, 1822)
Đồng danh: Sorex etruscus Savi, 1822
Đồng danh: Pachyura etrusca (Savi, 1822)
Đồng danh: Sorex etruscus Savi, 1822
Tên khác: Chuột chù núi
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiBùi Tuấn Hải

CHUỘT CHÙ NHẮT

Suncus etruscus Savi, 1822
Pachyura etrusca (Savi, 1822)
Sorex etruscus Savi, 1822
Họ: Chuột chù Soricidae
Bộ: Ăn sâu bọ Eulipotyphla

Đặc điểm nhận dạng:
Răng trắng. Kích thước và trọng lượng rất nhỏ, chuột chù ý là một trong những loài thú nhỏ nhất thế giới (trọng lượng cơ thể không quá 2 gam). Đuôi hai màu, nhưng không rõ ràng, mặt trên đậm hơn mặt dưới. Chiều dài đuôi chiếm khoảng 60% chiều dài thân đầu, với các sợi lông dài mọc rải rác từ gốc đến chóp đuôi. Chân rất nhỏ, sẫm màu ở con trưởng thành. Bộ lông màu nâu xám đến nâu đậm hoặc đen khói. Các loài trong giống Suncus đều có bốn răng đơn đỉnh ở hàm trên. Công thức răng: /2, 1/0, 2/1, 3/3 (x2) = 30 (I 1/1 U 4/1 P 1/1 M 3/3).
Sinh học, sinh thái:
Sự phân bố rộng của loài này có thể do hoạt động vận tải của con người. Nghiên cứu về sinh học phân tử cho thấy sự đa dạng về di truyền giữa các quần thể phân bố ở các vùng địa lý khác nhau. Tuy nhiên, chúng vẫn nằm chung nhóm với các loài chuột chù rất nhỏ khác là Suncus malayanus và Suncus madagascariensis, và tách biệt so với các loài cùng giống có kích thước lớn hơn. Thức ăn của chúng là các loài động vật không xương sống nhỏ, chúng có thể ăn lượng thức ăn lên tới 1,5 – 2 lần trọng lượng cơ thể.
Phân bố:
Trong nước: Lạng Sơn, Ninh Bình, Hà Nội, Phú Thọ, Bình Phước, Đồng Nai, Nghệ An, Bà Rịa – Vũng Tàu, Darklak.
Nước ngoài: Phân bố rộng trên lục địa Á – Âu và có lẽ đã được du nhập vào Việt Nam.
Giá trị:
Có giá trị thẩm mỹ và nghiên cứu khoa học. Có thể nuôi ở các vườn thú, giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu tiến hóa của các loài gặm nhấm nhỏ.
Tình trạng:
Loài này phân bố rộng ở các khu vực rừng có hiều hang hốc, tảng đá mẹ, tuy nhiên rất hiếm gặp. Quần thể loài này giảm do phá rừng làm rẫy, sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái, chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, khai thác lâm sản.
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố tự nhiên của loài; kiểm soát chặt chẽ tình trạng tác động đến sinh cảnh sống và quần thể của loài.

Mô tả loàiBùi Tuấn Hải – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae