Thằn lằn phê nô ba ngón
| Tên tiếng Anh: | tree-finger forest skink |
|---|---|
| Tên Latin: | Sphenomorphus tridigitus |
| Đồng danh: | Sphenomorphus tridigitus (Bourret, 1939) |
| Đồng danh: | Siaphos tridigitus Bourret, 1939 |
| Đồng danh: | Sphenomorphus tridigitus (Bourret, 1939) |
| Đồng danh: | Siaphos tridigitus Bourret, 1939 |
| Tên khác: | Thằn lằn phê nô bạch mã |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Lào Kontum Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, Kontum Quảng Nam Quảng Trị Thừa Thiên - Huế Vườn quốc gia Bạch Mã, Việt Nam Đà Nẵng Khu dự trữ thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa, Đà Nẵng
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng núi đá vôi Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
- Tình trạng bảo tồn Sắp bị đe dọa NT: Near threatened Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài đặc hữu Đông dương Loài bò sát kiếm ăn ban ngày Ăn các loài ấu trùng, côn trùng đất trong khu vực sống
THẰN LẰN PHÊ NÔ BA NGÓN
Sphenomorphus tridigitus (Bourret, 1939)
Siaphos tridigitus Bourret, 1939
Họ: Thằn lằn bóng Scincidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 36.5 mm. Dài đầu, 6.35 mm. Dài bàn chân trước 5 mm. Chân sau có 5 ngón, dài 8.5 mm, ngón thứ tư dài hơn ngón thứ ba. Các vảy mặt lưng của ngón thứ tư chân sau xếp thành hai hàng phía đáy và một hàng gồm ba vảy ở rìa ngoài. Màng da dưới ngón thư stư chân sau 7 – 8. Vảy mõm nửa tròn ở góc nhìn từ đỉnh. Không có vảy trên mũi. Vảy trán mũi rộng hơn dài. Các vảy trước trán tách biệt nhau. Vảy trên mắt 4, trong đó hai vảy đầu tiên nối với vảy trán ở mỗi bên. Xuất hiện vảy chẩm. Vảy gian chẩm lớn hơn mỗi vảy chẩm trán. Xuất hiện đốm mắt chẩm. Các vảy chẩm gặp nhau ở phía sau đến vảy gian chẩm. Vòng gáy rộng, 2 cái ở mỗi bên. Vảy mũi và vảy môi trên đầu tiên hòa lẫn vào nhau. Lỗ mũi ở vị trí trung tâm mặt lưng nối vảy mũi với vảy môi trên đầu tiên. Vảy má 1. Vảy trước dưới mắt 2, trong đó vảy trên nhỏ hơn vảy dưới. Vảy trước mắt 1. Gai mi mắt 7, cái đầu tiên nối với vảy trán, ba cái đầu tiên nối với vảy trên mắt ở mỗi bên, cái thứ sáu lớn và hơi nhô giữa các vảy trên mắt thứ ba và thứ tư. Vảy trước thái dương 2. Vảy dưới mắt phía sau 2. Các vảy trên mi mắt nối với các gai mi mắt trên, lớn hất và nhô nhất ở chính giữa. Mi mắt dưới có thể chuyển động, có vảy, hàng vảy dưới cùng nhuốm màu và trải rộng ra ngoài mi mắt. Vảy thái dương đầu tiên 1. Vảy thái dương thứ hai 1. Vảy môi trên 6 (đếm cả những vảy trên mũi hòa lẫn với vảy mũi coi như vảy đầu tiên). Vảy môi trên phía sau 2. Không có tai ngoài, chỉ có một vảy lõm ở ngay vị trí đó.Vảy cằm hình nửa bầu dục nhìn từ đỉnh. Vảy sau cằm rộng hơn dài. Vảy môi dưới 5 ở mỗi bên, trong đó (chỉ) vảy đầu tiên nối với vảy sau cằm. 3 tấm vảy cằm lớn, trong đó cặp vảy đầu tiên nối nhau, cặp vảy thứ hai tách rời nhau bởi một vảy và cặp thứ hai tách rời nhau bởi 3 vảy. Các vảy thân mượt, bóng. Các hàng vảy dọc giữa thân 18. Các hàng vảy bên xương sống 50. Các vảy trước huyệt bên trong gối lên bên ngoài. Vảy dưới đuôi 6 cặp xếp thành một hàng. Trong trạng thái ngâm cồn: Lưng màu nâu. Có một sọc mảnh lưng bên màu nâu sẫm. Các mặt dưới có đốm màu nâu. Các mặt của cằ có đốm thâm. Mặt bụng của cổ và thân màu thô. Mặt bụng của đuôi có đốm thâm ở đáy, đột nhiên chuyển màu xám ở vùng đuôi tái sinh.
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát này Loài này sống ở trong rừng thường xanh trên núi thấp và núi cao gồm cây gỗ vừa và nhỏ xen cây bụi, thường ẩn dưới lớp lá cây mục ở độ cao thấp đến 800m. Thức ăn là các loài côn trùng, chân đốt sống trong các khu vực phân bố, kiếm ăn ban ngày, khá nhút nhát. Đẻ 2 trứng trong hốc cây hoặc dưới lớp thảm mục thực vật.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Trị (Hướng Hóa), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã), Đà Nẵng (Bà Nà), Quảng Nam (Trà My), Kontum (Ngọc Linh).
Nước ngoài: Lào.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Ở Việt Nam, loài này hiện ghi nhận ở các tỉnh miền trung từ Quảng Trị vào đến Quảng Nam; số địa điểm ghi nhận phân bố là 5, tuy nhiên, vùng phân bố thực tế có thể rộng hơn ở miền Trung Việt Nam; diện tích phạm vi phân bố (EOO) khoảng 5.000 km2; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, làm đường, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp. Loài này hiếm gặp, ghi nhận ở các dãy núi cao trên 800m ở miền Trung Việt Nam.
Phân hạng: NT B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong vùng lõi của KBTTN Bắc Hướng Hóa, VQG Bạch Mã, KBTTN Bà Nà và KBTTN Ngọc Linh nên hạn chế được tác động. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần có những biện phát cụ thể để bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, khoáng sản, xâm lấn đất rừng.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm gia đình
Tên tiếng Anh:Common yeoman
Tên Latin:Cirrochroa tyche
Thằn lằn phê nô ấn
Tên tiếng Anh:Indian forest skink
Tên Latin:Sphenomorphus indicus
Bướm tím sapphia
Tên tiếng Anh:Purple sapphire
Tên Latin:
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae