TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm Hồng Thái

Thằn lằn phê nô ba ngón

Tên tiếng Anh: tree-finger forest skink
Tên Latin: Sphenomorphus tridigitus
Đồng danh: Sphenomorphus tridigitus (Bourret, 1939)
Đồng danh: Siaphos tridigitus Bourret, 1939
Đồng danh: Sphenomorphus tridigitus (Bourret, 1939)
Đồng danh: Siaphos tridigitus Bourret, 1939
Tên khác: Thằn lằn phê nô bạch mã
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẰN LẰN PHÊ NÔ BA NGÓN

Sphenomorphus tridigitus (Bourret, 1939)
Siaphos tridigitus Bourret, 1939
Họ: Thằn lằn bóng Scincidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 36.5 mm. Dài đầu, 6.35 mm. Dài bàn chân trước 5 mm. Chân sau có 5 ngón, dài 8.5 mm, ngón thứ tư dài hơn ngón thứ ba. Các vảy mặt lưng của ngón thứ tư chân sau xếp thành hai hàng phía đáy và một hàng gồm ba vảy ở rìa ngoài. Màng da dưới ngón thư stư chân sau 7 – 8. Vảy mõm nửa tròn ở góc nhìn từ đỉnh. Không có vảy trên mũi. Vảy trán mũi rộng hơn dài. Các vảy trước trán tách biệt nhau. Vảy trên mắt 4, trong đó hai vảy đầu tiên nối với vảy trán ở mỗi bên. Xuất hiện vảy chẩm. Vảy gian chẩm lớn hơn mỗi vảy chẩm trán. Xuất hiện đốm mắt chẩm. Các vảy chẩm gặp nhau ở phía sau đến vảy gian chẩm. Vòng gáy rộng, 2 cái ở mỗi bên. Vảy mũi và vảy môi trên đầu tiên hòa lẫn vào nhau. Lỗ mũi ở vị trí trung tâm mặt lưng nối vảy mũi với vảy môi trên đầu tiên. Vảy má 1. Vảy trước dưới mắt 2, trong đó vảy trên nhỏ hơn vảy dưới. Vảy trước mắt 1. Gai mi mắt 7, cái đầu tiên nối với vảy trán, ba cái đầu tiên nối với vảy trên mắt ở mỗi bên, cái thứ sáu lớn và hơi nhô giữa các vảy trên mắt thứ ba và thứ tư. Vảy trước thái dương 2. Vảy dưới mắt phía sau 2. Các vảy trên mi mắt nối với các gai mi mắt trên, lớn hất và nhô nhất ở chính giữa. Mi mắt dưới có thể chuyển động, có vảy, hàng vảy dưới cùng nhuốm màu và trải rộng ra ngoài mi mắt. Vảy thái dương đầu tiên 1. Vảy thái dương thứ hai 1. Vảy môi trên 6 (đếm cả những vảy trên mũi hòa lẫn với vảy mũi coi như vảy đầu tiên). Vảy môi trên phía sau 2. Không có tai ngoài, chỉ có một vảy lõm ở ngay vị trí đó.Vảy cằm hình nửa bầu dục nhìn từ đỉnh. Vảy sau cằm rộng hơn dài. Vảy môi dưới 5 ở mỗi bên, trong đó (chỉ) vảy đầu tiên nối với vảy sau cằm. 3 tấm vảy cằm lớn, trong đó cặp vảy đầu tiên nối nhau, cặp vảy thứ hai tách rời nhau bởi một vảy và cặp thứ hai tách rời nhau bởi 3 vảy. Các vảy thân mượt, bóng. Các hàng vảy dọc giữa thân 18. Các hàng vảy bên xương sống 50. Các vảy trước huyệt bên trong gối lên bên ngoài. Vảy dưới đuôi 6 cặp xếp thành một hàng. Trong trạng thái ngâm cồn: Lưng màu nâu. Có một sọc mảnh lưng bên màu nâu sẫm. Các mặt dưới có đốm màu nâu. Các mặt của cằ có đốm thâm. Mặt bụng của cổ và thân màu thô. Mặt bụng của đuôi có đốm thâm ở đáy, đột nhiên chuyển màu xám ở vùng đuôi tái sinh.
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát này Loài này sống ở trong rừng thường xanh trên núi thấp và núi cao gồm cây gỗ vừa và nhỏ xen cây bụi, thường ẩn dưới lớp lá cây mục ở độ cao thấp đến 800m. Thức ăn là các loài côn trùng, chân đốt sống trong các khu vực phân bố, kiếm ăn ban ngày, khá nhút nhát. Đẻ 2 trứng trong hốc cây hoặc dưới lớp thảm mục thực vật.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Trị (Hướng Hóa), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã), Đà Nẵng (Bà Nà), Quảng Nam (Trà My), Kontum (Ngọc Linh).
Nước ngoài: Lào.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Ở Việt Nam, loài này hiện ghi nhận ở các tỉnh miền trung từ Quảng Trị vào đến Quảng Nam; số địa điểm ghi nhận phân bố là 5, tuy nhiên, vùng phân bố thực tế có thể rộng hơn ở miền Trung Việt Nam; diện tích phạm vi phân bố (EOO) khoảng 5.000 km2; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, làm đường, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp. Loài này hiếm gặp, ghi nhận ở các dãy núi cao trên 800m ở miền Trung Việt Nam.
Phân hạngNT B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong vùng lõi của KBTTN Bắc Hướng Hóa, VQG Bạch Mã, KBTTN Bà Nà và KBTTN Ngọc Linh nên hạn chế được tác động. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần có những biện phát cụ thể để bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, khoáng sản, xâm lấn đất rừng.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae