Thằn lằn bóng trường
| Tên tiếng Anh: | Truong’s smooth skink |
|---|---|
| Tên Latin: | Scincella truongi |
| Đồng danh: | Scincella truongi Pham, Ziegler, Pham, Hoang, Ngo & Le, 2025 |
| Đồng danh: | Scincella truongi Pham, Ziegler, Pham, Hoang, Ngo & Le, 2025 |
| Đồng danh: | Scincella truongi Pham, Ziegler, Pham, Hoang, Ngo & Le, 2025 |
| Đồng danh: | Scincella truongi Pham, Ziegler, Pham, Hoang, Ngo & Le, 2025 |
| Tên khác: | Thằn lằn bóng sộp cộp |
- Độ cao so mặt nước biển 1600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Sơn La Khu bảo tồn thiên nhiên Mường La, Sơn La Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp, Sơn La
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng núi đá vôi Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài đặc hữu Việt Nam Loài bò sát kiếm ăn ban đêm Ăn các loài ấu trùng, côn trùng đất trong khu vực sống
THẰN LẰN BÓNG TRƯỜNG
Scincella truongi Pham, Ziegler, Pham, Hoang, Ngo & Le, 2025
Họ: Thằn lằn bóng Scincidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước trung bình (chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 54.86 mm). Đuôi tái sinh (dài đuôi 35 mm). Đầu dài hơn rộng (dài đầu 9.1 mm. Rộng đầu 6.57 mm). Mõm tù, tròn về phía trước. Vảy mõm rộng hơn cao, thấy rõ khi nhìn từ trên xuống. Không có vảy trên mũi. Vảy tiền mũi rộng hơn dài, nối với vảy mõm, các vảy mũi và các vảy trước má và vảy trán. Các vảy tiền trán không nối với nhau. Vảy trán hẹp phía sau, dài gấp 1.8 lần khoảng cách đến mút mõm, nối với vảy tiền trán, vảy trên mắt thứ nhất và thứ hai cùng với các vảy trán chẩm. Các vảy trán chẩm nối với nhau ở phía trước, được bao quanh bởi vảy trán, 3 vảy trên mắt, vảy chẩm và vảy gian chẩm. Vảy gian chẩm có hình thoi, không có đốm trong suốt. Các vảy chẩm nối với nhau ở phía sau. Vảy hậu má được bao quanh bởi 3 vảy ở mỗi bên. Các vảy gáy xếp thành 3 cặp. Mũi ở chính giữa vảy mũi, nối với vảy mõm, vảy trán mũi, vảy má, vảy môi trên thứ nhất. Vảy má 2, trong đó vảy trước cao hơn nhưng hẹp hơn phải sau. Vảy trước mắt 1. Vảy trước dưới mắt 2, nối với vảy trước mắt phía dưới, vảy môi trên thứ ba và tư.
Gai mi mắt trên 7. Vảy trên mắt 4, trong đó vảy đầu tiên dài nhất, vảy thứ hai rộng nhất, vảy thứ tư được theo sau bởi một vảy trên sau mắt. Vảy sau mắt 3, trong đó vảy phái trước nối với gai mi mắt trên thứ bảy, vảy trên sau mắt và vảy dưới sau mắt phía trên. Vảy dưới sau mắt 2, trong đó vảy dưới nối với vảy môi trên thứ sáu. Vảy thái dương thứ nhất 2, trong đó vảy dưới nối với vảy môi trên thứ sáu và bảy. Vảy thái dương thứ hai 2, trong đó vảy trên rất lớn, nối với vảy sau má, bao quanh vảy chẩm, gối lên bởi vảy dưới. Mi mắt dưới có một ô vảy mờ đục (đĩa trung tâm) không phân chia, tách với các vảy môi trên bởi hai hàng vảy nổi hạt. Vảy môi trên 7, trong đó vảy thứ năm ngay dưới mắt. Có tai ngoài, mép ttrước có thùy không rõ, màng nhĩ chìm sâu. Vảy cằm rộng hơn dài, tròn về phía trước, nối với các vảy môi dưới và vảy sau cằm. Vảy môi dưới 7, trong đó vảy đầu tiên nhỏ. Vảy sau cằm không phân chia, nối với vảy cằm, vảy môi dưới thứ nhất và một phần trước của vảy môi trên thứ hai ở mỗi bên, và nối cặp tấm vảy cằm thứ nhất. Tấm vảy cằm xếp thành ba cặp, cặp đầu tiên nối với nhau ở giữa, cặp thứ hai tách nhau bởi 1 vảy họng, cặp thứ ba tách nhau bởi 3 vảy. Vảy giữa thân 28 hàng. Vảy lưng mượt, xếp thành 6 hàng trên lưng. Vảy bên xương sống 67, không nở rộng. Vảy bụng mịn, xếp thành 68 hàng. Vảy trước huyệt 4, trong đó các vảy phía trong gối lên các vảy ngoài, hai vảy ở giữa nở rộng, vảy bên trái gối lên vảy bên phải. Đuôi dày ở đáy, các vảy dưới đuôi ở giữa nở rộng dọc đuôi.
Chân khá phát triển, có năm ngón. Mặt lưng của các ngón có hai hàng vảy ở đáy và một hàng vảy đơn ở đốt cuối. Màng da dưới ngón có gờ, xếp thành một hàng dưới các ngón, có 10 cái ở dưới ngón thứ tư chân trước và 15 dưới ngón thứ tư chân sau. Ngón chân trước và sau tách nhau ra khi gập thân. Khi gập thân chân trước chạm mắt. Màu sắc trong tự nhiên: Mặt lưng của thân và đuôi màu nâu đồng có đốm đen. Một sọc sẫm màu chạy từ mũi đến mắt và trải từ mép sau mắt dọc phần trên sườn và giữa đuôi. Mặt bên của đầu và sườn có một vài đốm trắng. Cằm, họng và bụng màu kem, mép ngoài của các vảy bụng màu xám sẫm. Mặt dưới của chân trước và sau màu nâu sáng. Mặt bụng của đuôi màu kem xám.
Scincella truongi khác các loài cùng giống Scincella ở những đặc điểm sau:
Loài mới rất giống với các loài Scincella ochracea và Scincella ouboteri ở miền Tây Bắc của Việt Nam nhưng:
Khác với loài Scincella ochracea bởi có kích thước lớn hơn (con đực có chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 49 mm so với 45.4 mm. Con cái 59.4 mm so với 51 mm), tai ngoài không có thùy (so với có), vảy tiền trán tách nhau (so với nối với nhau), ít hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 30 – 32), ít màng da dưới ngón thứ tư chân sau hơn (13 – 15 so với 15 – 17), và khác hoa văn lưng (lưng có đốm đen so với có sọc đứt nét sẫm màu).
Khác với loài Scincella ouboteri bởi có ít hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 30 – 32), ít màng da dưới ngón thứ tư chân sau hơn (13 – 15 so với 18 – 20), các ngón chân sau không chạm chân trước khi gập thân (so với gối lên), và khác hoa văn lưng (lưng có đốm đen so với có hai sọc xám bạc, các sọc sẫm rộng).
Scincella truongi có hai vảy trước thái dương nên khác các loài sau: Scincella apraefrontalis, Scincella baraensis, Scincella darevskii, Scincella devorator, Scincella melanosticta, Scincella monticola, và Scincella rara bởi chúng chỉ có 1.
Scincella truongi có các ngón chân sau không chạm chân trước khi gập thân nên khác với các loài có chân sau gối lên chân trước là: Scincella baraensis, Scincella badenensis, Scincella melanosticta, Scincella reevesii, và Scincella rupicola.
Scincella truongi còn có tai ngoài nhưng không có các thùy nên khác với các loài có thùy tai ngoài như sau: Scincella darevskii, Scincella ouboteri và Scincella reevesii.
Ngoài ra Scincella truongi còn khác các loài khác cụ thể như sau:
Khác với loài Scincella apraefrontalis bởi có nhiều hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 18), nhiều vảy bên xương sống hơn (60 – 67 so với 52), nhiều vảy bụng hơn (60 – 70 so với 50), các vảy lưng không nở rộng (so với nở rộng rõ), nhiều màng da dưới ngón thư stư chân sau hơn (13 – 15 so với 8 hoặc 9) và có xuất hiện vảy tiền trán (so với không có).
Khác với loài Scincella baraensis bởi có nhiều hàng vảy lưng hơn (6 so với 80, ít vảy giữa thân hơn (28 so với 30) và ít màng da dưới ngón thư stư chân sau hơn (13 – 15 so với 18 – 20).
Khác với loài Scincella badenensis bởi có nhiều cặp vảy gáy hơn (3 so với 0 – 1), ít hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 32 – 36) và ít màng da dưới ngón thứ tư chân sau hơn (13 – 15 so với 18 – 20).
Khác với loài Scincella darevskii bởi có ít màng da dưới ngón thứ tư chân sau hơn (13 – 15 so với 17) và ít vảy trên mắt hơn (4 so với 5).
Khác với loài Scincella devorator bởi ít màng da dưới ngón thứ tư chân sau hơn (13 – 15 so với 17 – 19) và hoa văn lưng (lưng có đốm đen so với có hai sọc xám bạc, các sọc sẫm rộng).
Khác với loài Scincella doriae bởi có it cặp vảy gáy hơn (3 so với 4 hoặc 5) và ít hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 30 – 32).
Khác với loài Scincella melanosticta bởi có vảy gáy (3 cặp so với không có), ít màng da dưới ngón thứ tư chân sau hơn (13 – 15 so với 16 – 22), ít hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 34 – 38) và ít hàng vảy lưng hơn (6 so với 10).
Khác với loài Scincella monticola bởi có nhiều hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 22 – 26), nhiều vảy bên xương sống hơn (60 – 67 so với 52 – 59), nhiều hàng vảy lưng hơn (6 so với 4) và nhiều vảy bụng hơn (60 – 70 so với 52 – 58).
Khác với loài Scincella nigrofasciata có nhiều vảy gáy hơn (3 cặp so với 0 hoặc 1), ít hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 32 – 33) và ít hàng vảy lưng hơn (6 so với 8).
Khác với loài Scincella rara bởi nhiều hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 24), nhiều vảy bên xương sống hơn (60 – 67 so với 53) , một hàng đơn các màng da dưới ngón II – IV của chân sau (so với các hàng đôi).
Khác với loài Scincella reevesii bởi có xuất hiện vảy gáy (3 cặp so với 0 hoặc 1), ít hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 29 – 35), ít hàng vảy lưng hơn (6 so với 8).
Khác với loài Scincella rufocaudata bởi có xuất hiện vảy gáy (3 cặp so với không có), ít hàng vảy lưng hơn (6 so với 10) và ít hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 30 – 34).
Khác với loài Scincella rupicola bởi có ít hàng vảy giữa thân hơn (28 so với 34 – 36), có ít hàng vảy lưng hơn (6 so với 8) và có xuất hiện vảy gáy (3 cặp so với 0 hoặc 1).
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát này sống trong các hang hốc đá mẹ và dưới các lớp thảm mục thực vật ở rừng thường xanh và cả các khu rừng phục hồi sau nương rẫy ở độ cao thấp đến 800m. Thức ăn là các loài côn trùng, chân đốt sống trong các khu vực phân bố, kiếm ăn ban ngày, khá nhút nhát. Đẻ 2 trứng trong hốc cây hoặc dưới lớp thảm mục thực vật.
Phân bố:
Trong nước: Loài đặc hữu và mới phát hiện công bố năm 2025 ở rừng thường xanh gần làng Tà Co (20°59’13,6″B, 103°37’19,4″Đ, ở độ cao 1.660 m so với mực nước biển), xã Sộp Cộp, nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Sộp Cộp, tỉnh Sơn La, Việt Nam.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên do môi trường sống bị tàn phá. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Lan hài việt nam
Tên tiếng Anh:Vietnam slipper orchid
Tên Latin:Paphiopedilum vietnamense
Trà yokdon
Tên tiếng Anh:Yokdon camellia
Tên Latin:Camellia yokdonensis
Luân thùy
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Spirolobium cambodianum
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae