TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Anthony Lamb

Chồn bạc má bắc

Tên tiếng Anh: Chinese ferret-badger
Tên Latin: Melogale moschata
Đồng danh: Melogale moschata subsp. subaurantiaca (Swinhoe, 1862)
Đồng danh: Helictis subaurantiaca Swinhoe, 1863
Đồng danh: Helictis subaurantiaca subsp. modesta Thomas, 1922
Đồng danh: Helictis subaurantica Swinhoe, 1862
Tên khác: Chồn lợn bắc
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CHỒN BẠC MÁ BẮC

Melogale moschata Gray, 1831
Melogale moschata subsp. subaurantiaca (Swinhoe, 1862)
Helictis subaurantiaca Swinhoe, 1863
Helictis subaurantiaca subsp. modesta Thomas, 1922
Helictis subaurantica Swinhoe, 1862
Họ: Chồn Mustelidae
Bộ: Ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài đầu và thân: 330 – 450 mm. Chiều dài đuôi: 150 – 230 mm. Trọng lượng: 1 – 3 kg. Loài thú ăn thịt có kích thước nhỏ, ngoại hình tương tự trông giống chồn bạc má nam. Bộ lông màu nâu sẫm, lông ở lưng, đuôi nhạt hơn. Điểm nổi bật là có đường chỉ màu trắng chạy từ giữa đến đầu gáy, nhỏ hơn đường chỉ của chồn bặc má nam. Lông màu trắng lẫn vàng giữa trán và hai bên má. Miệng cằm, dưới cổ và mút đuôi màu trắng. Mặt trong của chân có màu trắng vàng.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở bụi rậm trong rừng rậm. Thức ăn gồm chuột nhỏ và động vật không xương sống, nhưng loài chúng thường ăn nhất vẫn là giun đất. Ngủ trong hốc đất tự đào hoặc hốc cây. Mùa giao phối xảy ra vào tháng ba và sinh con vào tháng năm hàng năm. Thời gian mang thai kéo dài từ 60 đến 80 ngày. Đẻ từ một đến bốn con. Những con non sinh ra chưa mở mắt và có bộ lông dày và chỉ mở mắt sau hai tuần.
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp các tỉnh phía Bắc cho đến Nghệ An.
Nước ngoài: Miền Đông Ấn Độ nơi tiếp giáp Myanmar, miền, Đông, Nam Trung Quốc.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn, bẫy bắt loài thú ăn thịt nhỏ này và có biện pháp bảo vệ chúng thích hợp ở các Khu bảo tồn, Vườn quốc gia. Cần đưa một số cá thể về nuôi ờ vườn thú để bảo tồn nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Thú Đông Dương & Thái Lan trang 72. Danh lục thú Việt Nam.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae