Chó sói đỏ
| Tên tiếng Anh: | Dhole |
|---|---|
| Tên Latin: | Cuon alpinus |
| Đồng danh: | Canis alpinus Pallas, 1811 |
| Đồng danh: | Canis javanicus Desmarest, 1820 |
| Đồng danh: | Cuon primaevus Hodgson, 1833 |
| Đồng danh: | Canis rutilans Muller, 1839 |
| Tên khác: | Chó sói lửa |
- Độ cao so mặt nước biển M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Nguy cấp EN: Endangered
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Thú ăn thịt lớn Thú kiếm ăn cả ngày lẫn đêm
SÓI ĐỎ
Cuon alpinus (Pallas, 1811)
Canis alpinus Pallas, 1811
Canis javanicus Desmarest, 1820
Cuon primaevus Hodgson, 1833
Canis rutilans Muller, 1839
Họ: Chó Canidae
Bộ: Ăn thịt Carnivora
Đặc điểm nhận dạng:
Thú cỡ lớn. Dài thân: 895 – 918mm, dài đuôi: 308 – 327mm, dài bàn chân sau: 125 – 167mm. Mõm ngắn mùa đen. Tai tròn vểnh. Bộ lông màu da hoẵng (vàng đỏ). Bụng màu sáng nhợt. Chân và đuôi chuyển sang nâu đen và đen. Gốc đôi thắt nhỏ, xù ở phần cuối. Loài này kích thước và hình dáng, màu lông khác biệt với loài Chó rừng Canis aureus
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các khu rừng thường xanh từ thấp đến 1.000m. Hoạt động và kiếm ăn đêm ở các khu rừng già, những lúc săn đuổi mồi có thể về gần bản làng. Sói đỏ là thú ăn đêm, nhưng hoạt động tích cực vào lúc sáng sớm và chiều tối (có khi cả ban ngày). Vùng hoạt động lớn và luôn thay đổi. Sống từng đôi hoặc đàn 5 – 7 con, khi săn mồi có thể nhập đàn 10 – 15 con. Thức ăn của sói đỏ là nai, hoẵng, lợn rừng, động vật nuôi và các loài chim lớn. Sinh sản hầu như quanh năm, nhưng tập chung nhất là vào các tháng 11 – 2. Thời gian có chửa khoảng 9 tuần. Mỗi lứa đẻ 4 – 6 con, có thể 10 – 11 con.
Phân bố:
Trong nước: Điện Biên (Mường Nhé), Thanh Hoá (Pù Luông, Xuân Liên, Bến En, Pù Hu), Nghệ An (Pù Hoạt), Quảng Bình (Phong Nha-Kẻ Bàng), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đakrông), Thừa Thiên Huế (Phong Điền, KBT Sao La, Bạch Mã), Quảng Nam (KBT Sao La, Sông Thanh), Kom Tum (Chư Mom Ray), Đắk Lắk (Yok Đôn, Ea Sô, Chư Yang Sin), Bình Định (Phú Mỹ).
Nước ngoài: Liên xô (cũ), Nepanl, Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Triều Tiên, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Sumatra, Java, Indonesia.
Giá trị:
Loài hiếm có giá trị khoa học và nguồn gen. Chó rừng là loài hiếm từ trước đến nay, là nguồn gen tự nhiên quý. Do nạn săn bắt, chặt phá rừng, chó rừng ngày càng trở nên hiếm.
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận phân bố ở miền Bắc vào đến Tây Nguyên. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản. Loài này trước đây đã bị săn bắt quá mức làm thực phẩm; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạng: CR A2cd.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên, nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 52.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bọ ngựa cánh xanh trung bộ
Tên tiếng Anh:Blue wings praying mantids
Tên Latin:Creobroter apicalis
Thằn lằn bóng hai màu
Tên tiếng Anh:Forest-dwelling ground skink
Tên Latin:Scincella ochracea
Rắn hổ chúa
Tên tiếng Anh:King croba
Tên Latin:Ophiophagus hannah
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae