TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cheo cheo nam dương

Tên tiếng Anh: Lesser mouse-deer
Tên Latin: Tragulus kanchil
Đồng danh: Tragulus pelandoc Smith, 1827
Đồng danh: Tragulus pallidus Miller, 1901
Đồng danh: Cervus javanicus Osbeck, 1765
Đồng danh: Tragulus affinis Gray, 1861
Tên khác: Cheo cheo
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CHEO NAM DƯƠNG

Tragulus kanchil (Raffles, 1821)
Tragulus pelandoc Smith, 1827
Tragulus pallidus Miller, 1901
Cervus javanicus Osbeck, 1765
Tragulus affinis Gray, 1861
Họ: Cheo cheo Tragulidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla

Đặc điểm nhận dạng:
Loài thú móng guốc nhỏ nhất trong họ Cheo cheo Tragulidae, thân dài khoảng 0,4 – 0,5 m; trọng lượng trung bình 1,3 – 2,3 kg. Dạng ngoài hơi giống hoẵng. Đực, cái đều không có sừng, không có tuyến trước ổ mắt, răng nanh mọc dài ngoài mép (đực dài hơn), thiếu răng cửa trên. Chi rất mảnh, ngón 3, 4 phát triển. Bộ lông ngắn, mịn, đồng màu nâu đỏ ở mặt trên và mặt bên, thẫm ở dọc giữa lưng, nhạt dần ở hai bên, dọc gáy có vệt lông đen. Dưới cằm và họng có 2 vệt trắng chung gốc, 1 vệt dọc giữa tự do; đuôi lông xù, mặt trên màu giống lưng, mặt dưới trắng nhạt.
Sinh học, sinh thái:
Cheo ăn lá, chồi, thân non, hoa, quả, hạt, củ, cỏ, nấm. Thức ăn ưa thích là quả. Cheo cũng ăn côn trùng (sâu, nhộng), xác động vật. Cheo ghép đôi vào tháng 9 – 12 hàng năm, đẻ từ tháng 1 – 9, đẻ nhiều vào tháng 5-7. Theo A. Asdell (1946) và Grasse, (1955) Cheo cheo mang thai 120 ngày, năm đẻ 1 lứa/1 con.Cheo ưa sống đơn độc, chỉ ghép đôi thời kỳ động dục, hay ở rừng thưa, cũng có ở rừng già, ưa nơi bằng phẳng, khô ráo, có nhiều bụi rậm và có tầng cỏ quyết phát triển, trú ngụ trong các gốc cây to, bụi rậm. Hoạt động chủ yếu về đêm, từ 19h – 23h, mạnh nhất 20h – 22h. Nơi vắng cũng có thể gặp Cheo vào buổi sáng (5h – 7h).
Phân bố:
Trong nước: Điện Biên (Mường Nhé), Sơn La (Xuân Nha), Thanh Hoá (Pù Luông, Xuân Liên, Pù Hu, Bến En), Nghệ An (Pù Hoạt, Pù Huống, Pù Mát), Hà Tĩnh (Vũ Quang, Rào Àn, Kẻ Gỗ), Quảng Bình (Minh Hoá, Phong Nha – Kẻ Bàng, Trường Sơn), Quảng Trị (Bắc Hướng Hóa, Đắk Rông), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã, Phong Điền, Sao La Huế), Quảng Nam (Trà My, Quế Sơn, KBT Sao La, Sông Thanh), Bình Định (An Toàn Khu), Kontum (Chư Mom Ray, Ngọc Linh, Tu Mơ Rông, Đắc Tô, Kon Plông), Gia Lai (Kon Cha Răng, Kon Ka Kinh), Đắk Lắk (Ea Súp, Ea Sô, Yok Đôn, Chư Yang Sin), Đắk Nông (Cư Jút, Nam Nung, Nam Sinh, Tà Đùng), Khánh Hoà (Hòn Bà), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà, Đa Nhim, Lâm Hà, Cát Lộc), Đồng Nai (Vĩnh Cửu, Cát Tiên, Tân Phú), Bình Phước (Bù Gia Mập), Tây Ninh (Lò Gò – Sa Mát).
Thế giới: Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia, Thái lan, Indonesia, Malaysia, Singgapore, Brunei.
Giá trị:
Cheo là loài thú hiếm, dễ nuôi làm cảnh, nuôi ở các vườn thú, về khoa học, Cheo là loài thú Móng guốc cổ nhất, chỉ còn tồn tại ở rừng nhiệt đới Đông nam châu Á.
Tình trạng:
Loài này từng ghi nhận phân bố rộng từ miền Bắc vào miền Nam, hiện hiếm gặp trong tự nhiên do đã bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm và buôn bán, hầu như không còn gặp ở miền Bắc. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do suy giảm diện tích rừng tự nhiên và khai thác lâm sản. Kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 30% trong 30 năm qua.
Phân hạng: VU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loai này có tên trong Nhóm IIB Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae