TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Vũ Khôi

Cầy vòi mốc

Tên tiếng Anh: Masked palm civet
Tên Latin: Paguma larvata
Đồng danh: Paguma larvata subsp. nigriceps Pocock, 1939
Đồng danh: Paguma larvata (H. Smith, 1827)
Đồng danh: Paguma larvata subsp. nigriceps Pocock, 1939
Đồng danh: Paguma larvata (H. Smith, 1827)
Tên khác: Cầy mặt nạ trắng
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CẦY VÒI MỐC

Paguma larvata (H. Smith, 1827)
Paguma larvata subsp. nigriceps Pocock, 1939
Họ: Cầy Viverridae
Bộ: Ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Cầy vòi mốc có kích thước lớn, trọng lượng 6 – 9 kg, dài thân 650 – 75mm, dài đuôi 535 – 660mm. Lông trên thân. Nửa đùi trên, nửa đuôi trong màu vàng xám. Bụng vàng xám. Nửa đùi dưới phần đuôi ngoài đen. Có một sọc trắng bắt đầu từ mũi đi qua giữa đầu và đến gáy, má màu trắng nhạt. Có đốm trắng ở góc tai và dưới mi mắt. Con đực có tuyến xạ giữa hậu môn và bộ phận sinh dục ngoài.
Sinh học, sinh thái:
Đây là loài sống chủ yếu ở rừng, đặc biệt là rừng gỗ có nhiều cây và dây leo có nhiều quả ăn được. Làm tổ trong gốc cây. Sống đơn, hoạt động kiếm ăn đêm (từ chập tối đến nửa đêm). Leo trèo giỏi, có thể nhảy từ cành này sang cành khác ở cự ly 2m hoặc nhảy từ trên cao 6 – 7m xuống đất chính xác. Tính bạo dạn, ít phát ra tiếng động khi kiếm ăn.
Cầy vòi mốc ăn chủ yếu là quả cây rừng trong họ Dâu tằm Moraceae, Bồ hòn Sapindaceae, Trám Burceraceae, Thầu dầu Euphorbiaceae, Sến Sapotaceae. Vào các tháng hiếm quả cây rừng, Vòi mốc còn ăn cả côn trùng, cánh cứng, nhái, chuột (Phạm Nhật, 1982). Cầy vòi mốc động dục vào tháng 3 đến tháng 4, mang thai 1,5 đến 2 tháng, đẻ vào tháng 5 – 6. Mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ 2 – 4 con. Cầy mẹ làm tổ đẻ cẩn thận trong các hốc cây. Con đẻ ra yếu, chưa mở mắt.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu, Lào Cai (Hoàng Liên, Văn Bàn), Phú Thọ (Xuân Sơn), Hoà Bình (Hang Kia-Pà Cò), Hà Giang (Tây Côn Lĩnh), Cao Bằng (Phia Oắc, Trà Lĩnh), Tuyên Quang (Na Hang), Bắc Kạn (Ba Bể), Lạng Sơn (Hữu Liên, Mẫu Sơn), Thái Nguyên (Thần Sa), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Bắc Giang, Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hoá (Xuân Liên), Nghệ An (Pù Mát), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Kẻ Gỗ), Quảng Bình (Phong Nha-Kẻ Bàng), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đăk Rông), Thừa Thiên Huế (Phong Điền, Bạch Mã), Quảng Nam (Trà My, Nam Giang, Tây Giang), Bình Thuận (Tánh Linh), Kon Tum (Ngọc Linh), Gia Lai (Kon Ka Kinh), Đắk Lắk (Yok Đôn, Chư Yang Sin, Ea Sô), Đắk Nông (Tà Đùng), Lâm Đồng, Bình Phước (Bù Gia Mập), Bà Rịa-Vũng Tàu (Bình Châu-Phước Bửu).
Nước ngoài: Trung Quốc, Đài Loan, Lào, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ, Nepal, Malaysia, Sumatra, Borneo. 
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này phân bố rộng nhưng khá hiếm gặp. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản. Loài này bị săn bắt quá mức làm thực phẩm và buôn bán; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 30% trong vòng 20 năm qua.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục III CITES, Nhóm IIB Nghị định 84/2021 NĐ-CP của Chính phủ. Một phấn sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên, vẫn rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố tiềm năng; kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae