Cầy vòi hương
| Tên tiếng Anh: | Asian palm civet |
|---|---|
| Tên Latin: | Paradoxurus hermaphroditus |
| Đồng danh: | Paradoxurus lignicolor Miller, 1903 |
| Đồng danh: | Paradoxurus musangus Raffles, 1821 |
| Đồng danh: | Paradoxurus philippinensis Jourdan, 1837 |
| Đồng danh: | Paradoxurus cochinensis Schwarz, 1911 |
| Tên khác: | Chồn mướp |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Hầu khắp các tỉnh ở Trung Bộ Hầu khắp các tỉnh ở Nam Bộ Vườn Quốc Gia Pù Mát, Việt Nam Vườn quốc gia U Minh Thượng, Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, Điện Biên Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh, Hà Giang
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng bán ngập mặn Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng khộp Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
CẦY VÒI HƯƠNG
Paradoxurus hermaphroditus (Pallas, 1777)
Paradoxurus musangus Raffles, 1821
Paradoxurus philippinensis Jourdan, 1837
Paradoxurus lignicolor Miller, 1903
Paradoxurus cochinensis Schwarz, 1911
Họ: Cầy Viverridae
Bộ: Ăn thịt Carnivora
Đặc điểm nhận dạng:
Thú ăn thịt nhỏ có kích thước trung bình. Đầu – thân 42 – 71 cm, đuôi 33 – 66 cm, bàn chân sau 7 – 9 cm, tai 4,1 – 4,9 cm; cân nặng 2 – 5 kg. Bộ lông có màu sỉn nâu xám hoặc gỉ sắt, các đốm và sọc trên cơ thể có màu nâu hoặc đen, đuôi dài. Hoa văn trên đầu rất đa dạng, bao gồm một mặt nạ tối màu, với các mảng màu trắng hoặc xám nhạt dưới mắt, trên trán và ở gốc tai. Các biến thể bao gồm: mõm có các mảng mũi màu trắng, các mảng tai và trán hợp nhất, các mảng trên mặt rất nhỏ và các hoa văn trên mặt không có hoặc rất mờ. Các đốm đen dọc theo lưng hợp nhất thành ba đường, chạy dọc từ vai đến gốc đuôi. Các đốm ở hai bên sườn tách biệt rõ ràng, nhưng có hàng. Các kiểu hình thái này có thay đổi và có thể không rõ ràng ở một số quần thể ở các sinh cảnh khác nhau.
Một số cá thể có các vòng mờ ở gốc đuôi và chóp đuôi đôi khi có thể có màu trắng hoặc vàng. Bàn chân có năm ngón. Các miếng đệm bàn chân lớn và không tách biệt rõ với các miếng đệm gan bàn chân. Chúng bao phủ toàn bộ lòng bàn chân, trần ở giữa. Ở bàn chân sau, miếng đệm ngón chân thứ ba và thứ tư hợp nhất ở gốc. Tuyến tầng sinh môn đơn giản và bao gồm một vùng dài trần. Có ba cặp núm vú, nhưng cặp thứ ba bị tiêu giảm. Hộp sọ dài và thấp, với các mỏm sau hốc mắt nổi bật, có mào thấp, cung gò má nhô lên, không phẳng và thắt chặt sau hốc mắt.
Công thức răng: 13/3, C 1/1, P 4/4, M 2/2 = 40. Các xương hàm trên có mấu lồi, đôi khi ngắn và hình tam giác. Răng tiền hàm và răng hàm rất đa dạng. Răng tiền hàm thứ nhất bị tiêu; răng tiền hàm thứ hai và thứ ba khá đơn giản và nhọn. Ở những cá thể già, răng thường bị mòn rất nhiều.
Sinh học, sinh thái:
Cơ bản gần giống Cầy vòi mốc. Chủ yếu sống ở rừng thường xanh và nhiều kiểu rừng tàn phá còn sót lại hoặc những khu vực đất trồng cây ăn trái. Sinh hoạt kiếm ăn đêm, ngày ngủ. Thường đi đơn. Thức ăn chủ yếu là các loài quả cây rừng, thỉnh thoảng thấy chúng ăn côn trùng, trứng chim. Vòi hương sinh sản quanh năm nhưng tập trung vào các tháng 10, 11, 12. Mỗi lứa đẻ 2 – 4 con trong hốc đá hay bọng cây lớn. Cầy con sinh trưởng khá nhanh.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu (Mường Nhé), Lào Cai (Hoàng Liên, Văn Bàn), Sơn La, Phú Thọ (Xuân Sơn), Hà Giang (Tây Côn Lĩnh), Tuyên Quang (Na Hang), Cao Bằng (Phia Oắc), Bắc Kạn (Ba Bể), Lạng Sơn (Hữu Liên, Mẫu Sơn), Thái Nguyên (Thần Sa), Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Phòng (Cát Bà), Quảng Ninh (Hải Hà, Bình Liêu, Đồng Sơn-Kỳ Thượng, Hoà Bình, Thanh Hoá (Xuân Liên), Nghệ An (Pù Mát), Hà Tĩnh (Kẻ Gỗ), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Quảng Trị (Đăk Rông), Thừa Thiên Huế (Phong Điền, Bạch Mã), Đà Nẵng, Quảng Nam (Ngọc Linh, Nam Giang, Quế Sơn, Tây Giang), Bình Định, Bình Thuận (Tánh Linh), Komtum (Ngọc Linh), Gia Lai (Kon Ka Kinh, Chư Prông, A Yun Pa), Đắk Lắk (Yok Đôn, Chư Yang Sin, Ea Sô, Ya Lốp), Đắk Nông (Tà Đùng), Lâm Đồng, Tây Ninh (Lò Gò – Xa Mát), Đồng Nai (Cát Tiên), Bà Rịa-Vũng Tàu (Côn Đảo), Đồng Tháp, Sóc Trăng, Kiên Giang (U Minh Thượng, Phú Quốc), Cà Mau.
Nước ngoài: Nam Trung Quốc, Nepal, miền Đông Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia,
Giá trị:
Có giá trị lớn về mặt khoa học, thẩm mỹ và là nguồn gen quí hiếm để nghiên cứu các loài thú ăn thịt nhỏ trong tự nhiên, dùng làm tiêu bản sống phục vụ học tập, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên. Có thể nuôi làm cảnh ở các Trung tâm bảo tồn để phục vụ du lịch.
Tình trạng:
Cầy vòi hương phân bố rộng, tuy nhiên sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng và khai thác lâm sản; loài này cũng bị săn bắt quá mức để làm thực phẩm và buôn bán. Kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 30% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạng: VU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng vẫn cần thiết bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố tiềm năng; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Núc nác
Tên tiếng Anh:Indian trumpet tree
Tên Latin:Oroxylum indicum
Xuân hoa răng
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Pseuderanthemum crenulatum
Lan hài đốm
Tên tiếng Anh:One colored slipper orchid
Tên Latin:Paphiopedilum concolor
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae