TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:WWF

Cầy vằn bắc

Tên tiếng Anh: Owston's palm civet
Tên Latin: Chrotogale owstoni
Đồng danh: Hemigalus owstoni (Thomas, 1912)
Đồng danh: Hemigalus owstoni (Thomas, 1912)
Đồng danh: Hemigalus owstoni (Thomas, 1912)
Đồng danh: Chrotogale owstoni Thomas, 1912
Tên khác: Cầy vằn nam
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CẦY VẰN BẮC

Chrotogale owstoni Thomas, 1912
Hemigalus owstoni (Thomas, 1912)
Họ: Cầy Viverridae
Bộ: Ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Bộ lông Cầy vằn bắc mầu vàng nhạt hoặc xám bạc. Có 4 – 5 sọc đen lớn vắt ngang lưng xuống 2 bên sườn; 2 sọc đen chạy song song từ đỉnh đầu qua cổ và mở rộng xuống bả vai, đến đùi chân trước; tiếp nối 2 vạch tách biệt xuống đến đùi theo 2 sọc trên. Mặt có 3 sọc đen nhỏ kẹp giữa 2 sọc trắng chạy từ mũi đến đầu. Gốc đuôi có 2 vòng đen trắng, phần còn lại của đuôi (3/4) đồng mầu nâu đen. Đặc điểm nổi bật của Cầy vằn bắc khác với Cầy vằn nam là có nhiều đốm đen ở sườn và đùi (cầy vằn nam không có đốm).
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn gồm giun đất, côn trùng, quả cây, chuột, ếch, nhái, chim, trứng chim. Cầy vằn đặc biệt thích ăn giun đất. Trong nuôi nhốt Cầy vằn ăn thịt, giun đất và nhiều loại trái cây. Vùng sống và hoạt động bao gồm nhiều kiểu rừng khác nhau, chủ yếu rừng núi đất, trong các thung lũng có độ ẩm. Cầy chủ yếu hoạt động ở mặt đất, chỉ vài trường hợp gặp Cầy trên cây cao 2m, nhưng leo trèo giỏi. Cầy sống độc thân, hoạt động ban đêm, kiếm ăn ban đêm. Chưa có tài liệu về sinh sản của cầy vằn trong thiên nhiên; trong nuôi nhốt Cầy vằn trưởng thành sinh dục vào 1,5 – 2 năm tuổi; động dục vào tháng 1- 2 ; đẻ con tháng 2 – 4; mỗi lứa 2 – 3 con; thời gian chửa 60- 68 ngày; con sơ sinh trên dưới 400g.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Hoàng Liên, Văn Bàn), Yên Bái (Mù Căng Chải), Cao Bằng (Phia Oắc), Lạng Sơn (Hữu Liên), Bắc Kạn (Ba Bể), Tuyên Quang (Na Hang), Thái Nguyên (Thần Sa – Phượng Hoàng), Phú Thọ (Xuân Sơn), Hoà Bình (Ngọc Sơn – Ngổ Luông), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hoá (Pù Luông, Xuân Liên), Nghệ An (Pù Mát), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Quảng Trị (Đakrông), Thừa Thiên – Huế (Phong Điền, KBT Sao La, Bạch Mã), Đà Nẵng (Bà Nà), Quảng Nam (Sông Thanh), Kontum (Kon Plông), Gia Lai (Kon Ka Kinh, Kon Cha Răng), Đắk Lắk (Chư Yang Sin), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà).
Nước ngoài: Tây Nam Trung Quốc, Lào.
Giá trị:
Loài thú quí, hiếm, có giá trị nghiên cứu khoa học và giúp cân bằng sinh thái tự nhiên. Tuyến xạ có thể sử dụng làm dược liệu hoặc trong công nghệ sản xuất mỹ phẩm.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố khá rộng từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên, tuy nhiên, rất hiếm gặp. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản. Loài này là đối tượng bị săn bắt quá mức làm thực phẩm và buôn bán; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua
Phân hạng: CR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố tiềm năng; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae