TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cầy mực

Tên tiếng Anh: Binturong
Tên Latin: Arctictis binturong
Đồng danh: Viverra binturong Raffles,1821
Đồng danh: Ictides albifrons (Cuvier, 1822)
Đồng danh: Ictides ater Cuvier & Geoffroy, 1824
Đồng danh: Paradoxurus albifrons (Cuvier, 1822)
Tên khác: Mèo gấu
  • Độ cao so mặt nước biển M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CẦY MỰC

Arctictis binturong (Raffles, 1821)
Viverra binturong Raffles,1821
Ictides albifrons (Cuvier, 1822)
Ictides ater Cuvier & Geoffroy, 1824
Paradoxurus albifrons (Cuvier, 1822)
Họ: Cầy Viverridae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Bộ lông có mầu đen tuyền toàn thân, trừ phần mõm phớt trắng. Một số cá thể có mút lông màu trắng tạo nên Bộ lông màu hoa râm. Cầy mực sống ở các tỉnh phía Nam phần phớt trắng lan lên đến lưng. Lông dài thô và xù. Đuôi rất dài, gốc đuôi lớn, nhỏ dần về mút đuôi; mút đuôi có thể uốn cong cuộn vào thân cây lúc leo trèo. Tai có chòm lông dài, viền tai mầu trắng. Bàn chân rất khoẻ, vuốt dài nhọn và sắc.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn gồm nhiều loại quả cây và các động vật nhỏ sống trên cây như chim, chuột, côn trùng, rắn… Theo kết quả nghiên cứu về thức ăn của Cầy mực ở các cơ sở nuôi nhốt thì thức ăn của chúng hoàn toàn giống Cầy vòi mốc Paguma larvata, Cầy vòi đốm: ăn tạp gồm các loại quả chín, củ (khoai lang, khoai tây), thịt, cá, trứng, giun đất,…. Cầy mực sống và hoạt động ở rừng già, rừng tái sinh tốt cạnh rừng già. Chúng sống độc thân, hoạt động kiếm ăn ban đêm, sống thầm lặng, leo trèo giỏi, hoạt động chủ yếu trên cây. Khi leo trèo cầy dùng đuôi quấn vào cành cây để giữ thăng bằng. Cầy mực cũng xuống đất hoạt động, thích tắm nước và có thể bơi được. Cầy trưởng thành sinh dục 2 – 3 tuổi, thời gian chửa 92 – 94 ngày, đẻ 1 – 3 con, con sơ sinh nặng 400g.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây, ghi nhận phân bố rộng từ Lai Châu, Lào Cai vào đến Đồng Nai, Yok Đôn. Hiện nay ghi nhận ở các tỉnh Điện Biên (Mường Nhé), Yên Bái (Mù Căng Chải), Lào Cai (Hoàng Liên), Thanh Hoá (Pù Hu, Xuân Liên), Nghệ An (Pù Mát), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng, Động Châu-Khe Nước Trong), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đakrông), Thừa Thiên Huế (Phong Điền, Bạch Mã), Kon Tum (Ngọc Linh, Chư Mom Ray), Gia Lai (Chư Prông), Đắk Lắk (Yok Đôn, Chư Yang Sin), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà), Bình Thuận (Tánh Linh), Đồng Nai (Cát Tiên), Bình Phước (Bù Gia Mập).
Nước ngoài: Nga, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia.
Giá trị:
Loài thú quí hiếm có giá trị nghiên cứu khoa học và giúp cân bằng hệ sinh thái tự nhiên. Xạ hương dùng làm chất định hương trong sản xuất mỹ phẩm.
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận phân bố từ miền Bắc vào đến Đồng Nai, hiện nay khá hiếm gặp và không có thông tin ở một số địa điểm trước đây từng ghi nhận. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản. Loài này là đối tượng bị săn bắt quá mức làm thực phẩm; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạng: CR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng vẫn cần thiết bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố tiềm năng; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae