TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Tăng A Pẩu - Internet download

Cầy móc cua

Tên tiếng Anh: Crab-eating mongoose
Tên Latin: Herpestes urva
Đồng danh: Urva urva Corbet and Hill, 1992
Đồng danh: Herpestes urva Hodgson, 1836
Đồng danh: Urva urva Corbet and Hill, 1992
Đồng danh: Herpestes urva Hodgson, 1836
Tên khác: Cây ăn cua
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CẦY MÓC CUA

Herpestes urva Hodgson, 1836
Urva urva Corbet and Hill, 1992
Họ: Cầy Viverridae
Bộ: Ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Thú ăn thịt cỡ nhỏ. Đầu – thân 44 – 55,8 cm, đuôi 26,5 – 34 cm, bàn chân sau 9 – 10,9 cm, tai 2: 9,3 – 5 cm; cân nặng 3 – 4 kg. Bộ lông bảo vệ dài (lông lưng dài 40 – 50 mm) và một sọc cổ màu trắng. Màu lông thay đổi từ xám đến nâu đen, với các sợi lông riêng lẻ có màu đen và trắng. Cằm màu trắng, cổ họng màu xám, ngực màu nâu sẫm và bụng màu nâu nhạt hơn. Đỉnh đầu có màu nâu xám nhạt, lốm đốm trắng mịn. Mõm màu vàng nhạt; mũi màu thịt với một rãnh dọc sâu. Tai ngắn, rộng và tròn, được bao phủ bởi những sợi lông màu xám rất ngắn. Màu của mống mắt thay đổi từ vàng trứng đến nâu sẫm. Có một sọc trắng bắt đầu từ khóe miệng và chạy dọc theo cổ đến vai; sọc dài khoảng 9 – 10 cm và rộng 8 mm ở gốc. Các chi có màu nâu đến đen. Bàn chân có màng giữa các ngón chân nông và móng vuốt khỏe; lòng bàn chân trần ở bàn chân sau chỉ kéo dài khoảng hai phần ba khoảng cách đến gót chân. Đuôi rậm và thon dần, và trung bình dài 63% chiều dài của đầu và thân; đuôi có cùng màu với cơ thể, nhưng dần dần chuyển sang màu đất son (đôi khi hơi đỏ) về phía chóp. Các tuyến hậu môn ở mỗi bên hậu môn có kích thước bằng một quả anh đào và tiết ra chất tiết có mùi hôi thối (có thể phun ra với lực rất mạnh). Có ba cặp núm vú. Hộp sọ lớn và nặng, nhưng có mào tương đối nhỏ và kéo dài đến tận bên dưới lồi cầu chẩm. Cá thể trưởng thành có ổ xương chẩm hoàn chỉnh, mặc dù ổ xương này có thể không hoàn chỉnh ở con non. Công thức răng: 13/3, C 1/1, P 4/4, M 2/2 = 40. Răng tiền hàm thứ nhất hàm dưới không rõ ràng và có thể không có ở con non; răng hàm dưới phía cuối nhỏ nhưng phức tạp.
Sinh học, sinh thái:
Sống và kiếm ăn đơn độc. Mùa động dục hoặc nuôi con sống với nhau thành đàn. Sống ở rừng dọc theo con suối, rừng khộp, rừng thường xanh cây gỗ lớn. Thức ăn là những con vật nhỏ như cua, côn trùng dưới nước, chim nước hoặc các loài bò sát. Kiếm ăn đêm, bơi và lặn dưới nước giỏi. Mặc dù có tên gọi thông thường là Cầy móc cua. Nhưng chế độ ăn của chúng không chỉ bao gồm cua mà còn hầu như bất cứ thứ gì chúng bắt được, bao gồm cá, ốc sên, ếch, động vật gặm nhấm, chim, bò sát và côn trùng.
Phân bố:
Trong nước: Ở Việt Nam loài này có khắp các khu rừng còn tốt và sống gần các khu vực thủy vực. Đã gặp loài này ở một vài khu vực rừng ven biển. Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang.
Nước ngoài: Trung Quốc, Nepal, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia.
Giá trị:
Có giá trị lớn về mặt khoa học, thẩm mỹ và là nguồn gen quí hiếm để nghiên cứu các loài thú ăn thịt nhỏ trong tự nhiên, dùng làm tiêu bản sống phục vụ học tập, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên. Có thể nuôi làm cảnh ở các Trung tâm bảo tồn để phục vụ du lịch.
Tình trạng:
Loài cầy lỏn vốn rất ít gặp trong thiên nhiên, chúng phong phú và thích nghi với nhiều sinh cảnh rừng. Tuy nhiên vùng phân bố và trữ lượng giảm sút nhiều do săn bắn và mất rừng.
Biện pháp bảo vệ:
Cần được đưa và Sách đỏ Việt Nam và nhóm IIB Nghị định Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Cần điều tra đánh giá trữ lượng của loài này trong tự nhiên và có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt hơn các loài thuộc họ Cầy Viverridae.

Mô tả loài: Nguyễn Trường Sơn – Viện Sinh thái Tài nguyên sinh vật.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae