Cầy lỏn
| Tên tiếng Anh: | Mongoose |
|---|---|
| Tên Latin: | Herpestes javanicus |
| Đồng danh: | Herpestes javanicus subsp. rubrifrons J.A.Allen, 1909 |
| Đồng danh: | Herpestes javanicus Geoffroy, 1818 |
| Đồng danh: | Herpestes javanicus subsp. rubrifrons J.A.Allen, 1909 |
| Đồng danh: | Herpestes javanicus Geoffroy, 1818 |
| Tên khác: | Cầy lỏn tranh |
- Độ cao so mặt nước biển 800 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Chưa được đánh giá NE: Not evaluated
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn
- Sinh thái Thú ăn tạp (gồm cả thực vật, động vật, côn trùng) Thú kiếm ăn cả ngày lẫn đêm
CẦY LỎN
Herpestes javanicus Geoffroy, 1818
Herpestes javanicus subsp. rubrifrons J.A.Allen, 1909
Họ: Cầy Viverridae
Bộ: Ăn thịt Carnivora
Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài đầu – thân: 350 – 410 mm. Chiều dài đuôi: 250 – 290 mm. Lông trên đầu màu nâu đỏ đến nâu sẫm. Toàn bộ bộ lông màu nâu xen trắng. Chân có màu của thân hoặc sẫm hơn một chút. Đuôi dài khoảng 2/3 thân. Khi giật mình nó xù lông trông to hơn bình thường. Con cái có 3 cặp vú.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở rừng suy thoái, đồng cỏ nhiều hơn trong rừng xanh. Sống và kiếm ăn đơn độc. Mùa động dục hoặc nuôi con sống ghép đôi hoặc nhóm nhỏ. Ẩn nấp trong hang hoặc hốc cây. Thức ăn gồm chuột, chim và côn trùng nhỏ, đôi khi bắt gà rừng. Kiếm ăn cả ngày lẫn đêm. Có thể giao chiến với rắn độc vì chúng rất nhanh nhẹn, bắt và cắn vào cổ rắn cho tới chết. Mùa giao phối không rõ ràng, thường giao phối trong hang dưới đất. Mỗi lần đẻ 2 – 4 con. Mang thai 6 tuần. Ở trại nuôi dưỡng có thể có tuổi thọ là 6 năm.
Phân bố:
Trong nước: Ở Việt Nam loài này phân bố hầu khắp ở các khu rừng nguyên sinh, thứ sinh, trảng cỏ, cây bụi và gặp ở vùng dân cứ sống quanh khu vực có rừng từ Bắc đến Nam và tới độ cao 800m.
Nước ngoài: Loài này phân bố rộng khắp châu Á từ Iran, Pakistan, Ấn Độ, Myanmar, Nepal, vùng Sikkim, Bangladesh, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, đảo Java.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn, vườn thú để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Tài liệu dẫn: Thú đông dương và Thái Lan – trang 94, Danh lục thú Việt Nam.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm giáp nâu xanh ấn độ
Tên tiếng Anh:Indian yellow nawab
Tên Latin:Polyura jaylysus
Ếch cây trung bộ
Tên tiếng Anh:Annam flying frog
Tên Latin:Rhacophorus annamensis
Cua bay kontum
Tên tiếng Anh:Kontum long-armed beetles
Tên Latin:Cheirotonus gestroi
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae