TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cầy giông sọc

Tên tiếng Anh: Large-spotted civet
Tên Latin: Viverra megaspila
Đồng danh: Viverra megaspila Blyth, 1862
Đồng danh: Moschothera megaspila Pocook, 1933
Đồng danh: Viverra megaspila Blyth, 1862
Đồng danh: Moschothera megaspila Pocook, 1933
Tên khác: Cầy giông đốm lớn
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CẦY GIÔNG SỌC

Viverra megaspila Blyth, 1862
Moschothera megaspila Pocook, 1933
Họ: Cầy Viverridae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước và hình dáng gần giống với Cầy giông thường, trừ các đặc điểm phân biệt sau: ở phần lưng từ ngực đến gốc đuôi và đùi sau có nhiều đốm đen lớn rõ rệt trên nền sáng, đốm đen có thể tách rời hoặc tạo thành dải. Bờm lông đen dài chạy từ cổ dọc sống lưng đến mút đuôi. Vòng đuôi bị cắt bởi bờm lông màu đen ở mặt trên thành hình bán nguyệt, rõ nhất ở vòng mầu trắng. Đuôi có 4 vòng đen, trắng ở nửa phần gốc đuôi; nửa phần mút đuôi mầu đen (không có vòng). Có tuyến xạ cạnh hậu môn.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn của cầy giông sọc tương tự Cầy giông thường gồm chuột, ếch nhái, chim nhỏ, cua, cá, côn trùng, một số quả cây, có thể cả gia cầm, gia súc nhỏ. Vùng sống và hoạt động của Cầy giông sọc tương tự Cầy giông thường: vùng rừng, bìa rừng, cây bụi, nương rẫy; kể cả rừng tràm đước đồng bằng Nam Bộ:. Chúng làm tổ ở hốc cây, bụi rậm; hoạt động kiếm ăn ban đêm. Chưa có tư liệu về sinh sản.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Bình (Động Châu – Khe Nước Trong, Khe Nét, Phong Nha – Kẻ Bàng), Đắk Lắk (Yok Đôn), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà), Đồng Nai (Cát Tiên), Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh (Lò Gò – Sa Mát), Kiên Giang (U Minh Thượng).
Nước ngoài: Myanmar, Malaysia, Thái Lan, Cambodia, Lào.Bid
Giá trị:
Loài thú quí hiếm và có giá trị nghiên cứu khoa học. Góp phần điều hoà số lượng cá thể quần thể các loài động vật, con mồi trong môi trường tự nhiên và góp phần cân bằng sinh thái.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận ở một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ, tuy nhiên, rất hiếm gặp. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản. Loài này là đối tượng bị săn bắt quá mức làm thực phẩm và buôn bán; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạngCR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Đã được đưa vào Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên, vẫn cần thiết bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae