Cầy gấm
| Tên tiếng Anh: | Spotted linsang |
|---|---|
| Tên Latin: | Prionodon pardicolor |
| Đồng danh: | Prionodon perdicator Schinz, 1844 |
| Đồng danh: | Prionodon pardicolor presina Thomas, 1925 |
| Đồng danh: | Prionodon perdicator Schinz, 1844 |
| Đồng danh: | Prionodon pardicolor presina Thomas, 1925 |
| Tên khác: | Cây sao, Cầy chín khoang |
- Độ cao so mặt nước biển 800 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Ấn Độ Trung Quốc Myanmar Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Hầu khắp Đông nam Á Nepal Vườn quốc gia Ba Bể, Việt Nam Vườn quốc gia Xuân Sơn, Việt Nam Vườn quốc gia Bạch Mã, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Sống ở trên cây Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Rừng phục hồi sau nương rẫy
- Tình trạng bảo tồn Nguy cấp EN: Endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Thú ăn thịt nhỏ Ăn các loài lưỡng cư và gặm nhấm nhỏ Thú kiếm ăn ban đêm
CẦY GẤM
Prionodon pardicolor Hodgson, 1841
Prionodon perdicator Schinz, 1844
Prionodon pardicolor presina Thomas, 1925
Họ: Cầy Viverridae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora
Đặc điểm nhận dạng:
Thú ăn thịt nhỏ có kích thước nhỏ. Đầu – thân 31 – 45 cm, đuôi 30 – 39,9 cm; cân nặng 0,55 – 1,2 kg. Tỷ lệ đầu – thân dài hơn chiều dài đuôi. Có hai cặp vú. Con đực trưởng thành kích thước lớn hơn, gấp đôi con cái. Đầu và cổ dài hơn, mõm nhọn; đệm mũi màu hồng nâu. Tai có kích thước trung bình, rộng ở gốc và tròn. Mống mắt có màu nâu sẫm đến đen. Bộ lông ngắn và rất mềm. Màu lông tương đối đồng đều trên toàn bộ cơ thể. Phần lông ở lưng, hai bên sườn thay đổi từ xám nhạt đến vàng hung. Lông bụng có màu xám nhạt đến vàng nhạt.
Đặc điểm nhận dạng rõ nhất gồm các đốm màu đen không đồng nhất. Trên lưng có hai cặp sọc đen lớn chính gần như không hợp nhất và một cặp sọc gáy lớn đặc trưng tiếp nối với hàng đốm thứ hai. Một hàng đốm mỏng bắt đầu sau vai tạo thành một sọc giữa lưng đứt đoạn. Các đốm nhỏ phân bố không đều trên hai bên sườn, vai và đùi. Phần còn lại của chi sau và bàn chân trước không có đốm.
Chân có năm móng vuốt có thể co lại hoàn toàn, có bao. Bàn chân sau di chuyển bằng ngón chân, bàn chân trước di chuyển bằng gan bàn chân; thùy ngón chân cái nhỏ và xa; không có đệm xương bàn chân. Đuôi dài gần bằng đầu và thân; có lông dày, với lông ngắn; có 7 – 9 vòng tối màu rộng, chóp màu trắng, với các vòng rộng, xa thường xen kẽ với các vòng mỏng màu nền. Không có tuyến tầng sinh môn. Mỏm đuôi dài vừa phải; Mào dọc tạo thành một sọc lớn, phẳng hợp nhất với xương trán. Công thức răng: 13 / 3, C 1 / 1, P 4 / 4, M 1 / 2 = 38.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn gồm chuột, rắn, ếch nhái, chim nhỏ, côn trùng. Nơi sống và hoạt động: ở rừng, chủ yếu rừng thứ sinh có nhiều dây leo cây bụi. Chưa gặp cầy ở bìa rừng. Hoạt động chủ yếu trên các cây thấp cách mặt đất 1 – 1,5m, đôi khi cũng xuống mặt đất. Cầy gấm sống độc thân, thầm lặng, hoạt động ban đêm. Đẻ con trong các hốc cây, mỗi lứa 2 con (Kanchanasakha, et al.1998).
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Hoàng Liên), Phú Thọ (Xuân Sơn), Cao Bằng (Phia Oắc), Bắc Kạn (Ba Bể, Chợ Đồn), Tuyên Quang (Na Hang), Lạng Sơn (Hữu Liên), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Quảng Ninh, Hoà Bình (Hang Kia – Pà Cò), Thanh Hoá (Bến En), Nghệ An (Pù Mát), Hà Tĩnh, Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Quảng Trị (Bắc Hưóng Hoá), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã), Quảng Nam (Đông Giang, Tây Giang), Bình Định, Bình Thuận (Tánh Linh), Gia Lai, Đắk Lắk (Chư Yang Sin), Đắk Nông (Tà Đùng), Lâm Đồng.
Thế giới: Ấn Độ, Nepal, Myanmar, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Lào.
Giá trị:
Loài thú quí hiếm và có giá trị nghiên cứu khoa học. Góp phần điều hoà số lượng cá thể quần thể các loài động vật, con mồi trong môi trường tự nhiên và góp phần cân bằng sinh thái.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố khá rộng từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên, tuy nhiên, rất hiếm gặp. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản. Loài này là đối tượng bị săn bắt quá mức làm thực phẩm và buôn bán. Sinh cảnh sống của loài bị chia cắt và suy thoái do xâm lấn đất rừng tự nhiên để mở rộng đất sản xuất nông nghiệp, khai thác lâm sản. Kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 50% trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: EN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Đã được đưa vào Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên, vẫn cần thiết bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Viết
Tên tiếng Anh:Spanish cherry
Tên Latin:Mimusops elengi
Bướm hổ đuôi nhỏ
Tên tiếng Anh:Common jester
Tên Latin:
Nhím đuôi ngắn
Tên tiếng Anh:Malayan porcupine
Tên Latin: Hystrix brachyura
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae