Cẩu tích
| Tên tiếng Anh: | Golden chicken fern |
|---|---|
| Tên Latin: | Cibotium barometz |
| Đồng danh: | Dicksonia barometz (L.) Link, (1841) |
| Đồng danh: | Aspidium barometz (L.) Willd., (1810) |
| Đồng danh: | Nephrodium barometz (L.) Sweet, (1830) |
| Đồng danh: | Polypodium barometz L., (1753) |
| Tên khác: | Kim mao vàng |
- Độ cao so mặt nước biển 1500 M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Ấn Độ Trung Quốc Myanmar Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Hầu khắp Đông nam Á Vườn quốc gia Ba Bể, Việt Nam Vườn quốc gia Xuân Liên, Việt Nam Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao
CẨU TÍCH
Cibotium barometz (L.) J. Smith, 1842
Dicksonia barometz (L.) Link, (1841)
Aspidium barometz (L.) Willd., (1810)
Nephrodium barometz (L.) Sweet, (1830)
Polypodium barometz L., (1753)
Họ: Dương xỉ thân gỗ Cyatheaceae
Bộ: Dương xỉ thân gổ Cyatheales
Đặc điểm nhận dạng:
Cây thuộc loại dương xỉ tạng, thường xanh, cao tới 3 m. Thân rễ to ngắn, mọc vùi sát mặt đất, hơi nạc, phủ dầy lông tơ màu vàng nâu óng ánh. Từ thân rễ mọc lên 1 – 5 lá to, lá kép lông chim 3 lần, nhỏ dần ở đỉnh, dài 1 – 2,5 m, cả phiến rộng đến 80cm. Cuống lá cứng, màu nâu đến nâu thẫm. Thùy lá cấp 3 hình răng thưa, mặt trên xanh, mặt dưới nhạt hơn, có 1 – 2 túi bào tử, màu nâu nhạt, nắp 2 mảnh.
Sinh học, sinh thái:
Mùa có bào tử tháng 10 – 1. Tái sinh bằng bào tử ra hàng năm, phát tán nơi lận cận. Nếu bị đào mất phần thân rễ già, phần non mang lá còn lại vẫn có thể tái sinh. Mọc thành trứng đám lớn dọc hành lang ven suối ở rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới hay á nhiệt đới nuí cao, độ cao 800 m trở lên (ở miền nam), 500 – 1.500 m (miền bắc). Đặc biệt ưa ẩm, ưa bóng, ưa khí hậu ẩm mát, sinh trưởng phát triển mạnh trong mùa mưa ẩm.
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp các tỉnh miền núi: Lai Châu (Phong Thổ), Lào Cai (Than Uyên), Cao Bằng (Quảng Hòa, Ba Bể), Bắc Thái (Đại Từ), Hoà Bình (Mai Châu, Đà Bắc), Thanh Hóa (Bá Thước, Xuân Liên), Nghệ An (Kỳ Sơn), Quảng Nam – Đà Nẵng (Trà My), Kontum (Đắc Tô: Đắc Kỳ), Lâm Đồng (Đà Lạt, thác Prenn, Trại Hầm, Bảo lộc, Lạc Dương).
Nước ngoài: Ấn Độ, Campuchia, Trung Quốc , Hải Nam, Jawa, Lào, Malaya, Myanmar, Nansei-shoto, New Guinea, Philippines, Sumatera, Đài Loan, Thái Lan.
Giá trị:
Thân rễ làm thuốc chữa đau nhức xương khớp, chữa đau lưng, dây thần kinh hông. Còn dùng làm thuốc chống viêm, khí hư và bệnh đi tiểu nhiều ở người già. Lông mao làm thuốc cầm máu vết đứt tay (kinh nghiệm dân gian). Thân rễ còn được dùng tạo dáng các con vật để làm cảnh.
Tình trạng:
Loài ghi nhận phân bố rộng khắp cả nước từ Lai Châu đến Bà Rịa – Vũng Tàu. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mở rộng diện tích đất canh tác nông nghiệp. Loài này bị khai thác để làm cảnh và làm thuốc; kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 30 % trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: VU A2acd.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Phân bố của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên cần thiết phải quản lý các hoạt động thương mại loài này; bảo vệ sinh cảnh sống của loài.
Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 419.
- Documentation and reference sources:003
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Nhông xanh lá đuôi dài
Tên tiếng Anh:Gunther's bloodsucker
Tên Latin:Bronchocela smaragdina
Rùa núi vàng
Tên tiếng Anh:Elongated tortoise
Tên Latin:Indotestudo elongata
Trĩ đỏ khoang cổ
Tên tiếng Anh:Common pheasant
Tên Latin:Phasianus colchicus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae