TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cao cát bụng trắng

Tên tiếng Anh: Oriental pied hornbill
Tên Latin: Anthracoceros albirostris
Đồng danh: Buceros malabaricus Blyth, 1841
Đồng danh: Anthracoceros albirostris (Blyth), 1841
Đồng danh: Buceros malabaricus Blyth, 1841
Đồng danh: Anthracoceros albirostris (Blyth), 1841
Tên khác: Cao cát
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CAO CÁT BỤNG TRẮNG

Anthracoceros albirostris (Blyth), 1841
Buceros malabaricus Blyth, 1841
Họ: Hồng hoàng Bucerotidae
Bộ: Hồng hoàng Bucerotiformes

Đặc điểm nhận dạng:
Chim trưởng thành: Phần dưới ngực, họng, dưới đuôi, phần mút các lông đuôi ngoài, mép cánh, phần gốc và mút các lông cánh sơ cấp, trừ hai lông ngoài cùng và mút các lông cánh thứ cấp trắng. Toàn bộ các phần còn lại của bộ lông đen ánh lục. Mũ trên mỏ hẹp, cao, mút mũ nhọn dô ra về phía trước. Chim càng già mũ càng cao và dài. Hai bên họng có đám da trần. Mắt nâu đỏ. Da trần quanh mắf xanh nhạt hay xanh ánh đỏ. Một đám da ở họng xanh phớt tím. Mỏ vàng nhạt, chóp của mũ có vệt đen. Cánh (đực): 255 – 310, (cái): 235 – 310; đuôi: 225 – 300; giò: 98 – 58; mỏ (đực): 98 – 135, (cái): 92 – 122 mm.
Chim cái: Chỉ khác là có màu mắt nâu, mỏ có nhiều vệt đen hơn ở chóp của mũ, mút của mỏ trên và mép của mỏ dưới.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các khu rừng thường xanh còn tốt, thỉnh thoảng bắt gặp ăn quả cây ở các khu rừng phục hồi. Thức ăn chủ yếu là các loài quả cây và còn bắt gặp ăn thằn lằn, cóc nhái. Làm tổ trong hốc cây to và cao, đẻ 2 trứng. Con đực bao bọc tổ bằng đất xét nhốt con cái ấp trứng trong suốt thời gian cho đến khi con trưởng thành. Chim đực dùng mỏ phá tổ để con cái và con non bay ra ngoài.
Phân bố:
Trong nước:Cao cát bụng trắng phân bố ở hầu khắp các rừng rậm rạp từ Bắc đến Nam.
Nước ngoài: Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Nam Trung Quốc.
Giá trị:
Loài chim có bộ lông đẹp, mỏ to và có tập tính làm tổ, dạy con rất đặc biệt cần đưa vào sách sinh học cho thế hệ trẻ nghiên cứu và học tập.
Tình trạng:
Loài chim định cư thường gặp, ghi nhận nhiều hơn tại các tỉnh miền Nam. Loài này có kích cỡ quần thể nhỏ và bị suy giảm do mất và suy thoái sinh cảnh sống cũng như bị săn bắt quá mức làm cảnh.

Tài liệu dẫn:  
Chim Việt Nam hình thái và phân loại – Võ Qúi – tập 1 trang 574.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae