TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Dương Đình Tùng Anh

Cánh cam xanh bốn chấm

Tên tiếng Anh: No english name
Tên Latin: Jumnos ruckeri
Đồng danh: Jumnos rukeri tonkinensis Nagai, 1992
Đồng danh: Jumnos rukeri tonkinensis Nagai, 1992
Đồng danh: Jumnos ruckeri Nagai, 1992
Đồng danh: Jumnos ruckeri Nagai, 1992
Tên khác: Cánh cam xanh bốn chấm
  • Độ cao so mặt nước biển 1300 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiTô Văn Quang

CÁNH CAM XANH BỐN CHẤM

Jumnos ruckeri Nagai, 1992
Jumnos rukeri tonkinensis Nagai, 1992
Họ: Bọ hung Scarabaeidae
Bộ: Cánh cứng Coleoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Cơ thể dài: đực 41,3 – 51,6 mm, cái 38,7 – 45,5 mm. Mặt lưng cơ thể màu xanh lá cây ánh kim, cánh trên màu xanh lá cây ánh kim, mỗi cánh có 2 đốm lớn màu vàng hay vàng da cam, đốm trước nhỏ, gần như tròn, đốm sau lớn hơn đốm trước rất nhiều và có dạng gần như hình lục giác không đều các cạnh. Mép trong của ống chân giữa và ống chân sau có lông ngắn màu vàng da cam hay đỏ nâu. ống chân trước phát triển hơn ống chân giữa và sau, gần ngọn của nó có 1 cái gai ngắn.
Loài Jumnos ruckeri có 4 phân loài, phân loài gốc ở Đông bắc Ấn Độ, Myanmar và Thái Lan, 1 phân loài ở Malaysia, 1 phân loài ở Nam Trung Quốc (Hải Nam) và phân loài Jumnos rukeri tonkinensis Nagai, 1992 phân bố ở Việt Nam
Sinh học, sinh thái:
Chưa có các nghiên cứu sâu về ấu trùng và thức ăn của chúng. Mẫu vật sưu tầm các cá thể trưởng thành chỉ thấy ở vùng núi đá vào tháng 8 – tháng 9.
Phân bố:
Trong nước: Hà Giang (Vườn quốc gia Du Già), Cao Bằng, Yên Bái, Phú Thọ (Vườn quốc gia Xuân Sơn), Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo).
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc.
Giá trị:
Có màu sắc đẹp được ưa thích, có giá trị nghiên cứu khoa học và thẩm mỹ. Mẫu vật sưu tầm dùng làm giáo cụ giúp cho sinh viên, học sinh hiểu tập tính, sinh thái loài.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận ở 5 tỉnh miền Bắc, với số lượng cá thể trưởng thành ghi nhận rất ít, thường dưới 2 cá thể trong một đợt khảo sát. Sinh cảnh sống của loài bị tác động do chuyển đổi đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản, phát triển cơ sở hạ tầng và du lịch. Kích cỡ quần thể của phân loài này bị suy giảm ước tính trên 30% trong vòng 30 năm qua do thu hẹp và suy thoái sinh cảnh giảm cũng như bị khai thác, buôn bán làm sinh vật cảnh. Hiện rất hiếm gặp. Theo tài liệu Jumnos ruckeri tonkinensis Nagai chỉ mới tìm thấy ở Vườn quốc gia Tam Đảo vào tháng 8 – 9 năm 1992 (7 đực, 8 cái), hiện nay không còn tìm thấy ở Tam Đảo nữa. Tháng 9 năm 2000, chỉ thu được một mẫu ở Vườn quốc gia Xuân Sơn (huyện Thanh Sơn, Phú Thọ).
Phân hạng: VU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Nơi sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng và khai thác lâm sản. Quần thể suy giảm do bị bị săn bắt và buôn bán để nuôi làm cảnh. Sinh cảnh sống của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh trong vùng phân bố tự nhiên của loài; phục hồi quần thể trong tự nhiên; kiểm soát thu bắt và buôn bán trái pháp luật loài này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam – phần động vật – trang 135.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae