Cáng lò
| Tên tiếng Anh: | No english name |
|---|---|
| Tên Latin: | Betula alnoides |
| Đồng danh: | Betula acuminata Wall., (1830) |
| Đồng danh: | Betula affinis (Spach) Endl., (1848) |
| Đồng danh: | Betula nitida D.Don, (1825) |
| Đồng danh: | Betulaster acuminata Spach, (1841) |
| Tên khác: | Co lim |
- Độ cao so mặt nước biển M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Ấn Độ Trung Quốc Cao Bằng Lạng Sơn Kontum Hà Giang Lào Cai Tuyên Quang Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Tuyên Quang Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê, Hà Giang
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Được trồng làm thuốc, làm cảnh, làm thức ăn
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Cho gỗ để xây dựng và sản xuất đồ gia dụng Cho nguyên liệu giấy, sợi phục vụ công nghiệp Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Cây gỗ lớn Cây ưa sáng, ưa đất tốt, ưa ẩm, ít chịu hạn Thực vật tái sinh hạt tốt và tái sinh chồi kém
CÁNG LÒ
Betula alnoides Buch-Ham. ex D.Don, (1825)
Betula acuminata Wall., (1830)
Betula affinis (Spach) Endl., (1848)
Betula nitida D.Don, (1825)
Betulaster acuminata Spach, (1841)
Họ: Cáng lò Betulaceae
Bộ: Giẻ Fagales
Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ nhỏ, thân thẳng tròn; vỏ ngoài màu nâu xám, bong ra từng mảng; thịt vỏ màu nâu, mùi thơm hắc. Lá có phiến xoan, đầu nhọn, gốc tròn hay hình tim, dài 8 – 14cm, rộng 4 – 6cm, mép có răng cưa nhọn, gân bên 10 – 12 đôi, lúc khô nâu đỏ có lông chói mặt trên, còn mặt dưới nâu đỏ̉; cuống dài 1,5cm. Cụm hoa đực hình đuôi sóc; hoa đực có chỉ nhị dính từng cặp. Hoa cái xếp thành cụm 2 – 3 hoa ở nách lá bắc. Hoa được thụ phấn chủ yếu nhờ gió. Quả bế nhỏ có cánh, nằm trong cụm quả dạng đuôi sóc; cánh rộng giúp hạt phát tán theo gió.
Sinh học, sinh thái:
Cây ưa sáng mạnh (heliophilous). Cây con và cây tái sinh phát triển tốt ở những nơi có nhiều ánh sáng, trong khi dưới tán rừng kín khả năng tái sinh giảm đáng kể. Sống ở rừng thứ sinh, khoảng trống rừng, ven đường mới mở và đất sau nương rẫy. Loài này chủ yếu ở độ cao 500 – 1.500 m, trên địa hình có độ dốc dưới khoảng 40°, và mật độ cây tái sinh dao động 80 – 2.240 cây/ha tùy sinh cảnh. Cây tiên phong ưa sáng, có khả năng nhanh chóng chiếm lĩnh các khoảng trống sau nhiễu động. Hạt rất nhỏ và có cánh rộng nên có khả năng phát tán xa; loài cũng được ghi nhận tái lập quần thể tốt ở các khu vực đất trống hoặc sau nhiễu động.
Phân bố:
Trong nước: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn vào tới Kontum và Gia Lai.
Nước ngoài: Nam Trung Quốc, Nêpan, Ấn Độ.
Giá trị:
Gỗ có thể dùng trong xây dựng, đóng đồ dùng trong nhà, gỗ trụ mỏ và sản xuất ván lạng. Loài này được nghiên cứu khá nhiều ở Việt Nam và Trung Quốc vì thân thẳng, sinh trưởng nhanh và có khả năng trồng rừng quy mô lớn, có giá trị đặc biệt về tái sinh rừng, phục hồi rừng và lâm nghiệp. . Vỏ và lá đều chứa dầu thơm salicylate methyl.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Phạm Văn Thế, Trần Hợp – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:003
-
CƠ CHẾ TIÊU BIẾN ĐUÔI CỦA LƯỠNG CƯ AMPHIBIAN22 Tháng 9, 2026 -
RỒNG KOMODO, CÚ LẬT KÈO NGOẠN MỤC VỀ ĐỘC HỌC11 Tháng 9, 2026 -
CƠ CHẾ FRONT-FANGED VÀ REAR-FANGED Ở RẮN ĐỘC9 Tháng 9, 2026 -
NGỤY TRANG TẤN CÔNG Ở HYMENOPUS CORONATUS6 Tháng 9, 2026 -
CHỒN BAY-SINH HỌC, TẬP TÍNH LƯỢN ĐÊM VÀ NHỮNG NHẦM LẪN6 Tháng 9, 2026
Bài liên quan
Đỗ trọng tía
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Euonymus nitidus
Tế vách đá
Tên tiếng Anh:Wall cycad
Tên Latin:Cycas clivicola
Cầy vằn nam
Tên tiếng Anh:Banded palm civet
Tên Latin:Hemigalus derbyanus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae