TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cá sấu xiêm

Tên tiếng Anh: Siamese crocodile
Tên Latin: Crocodylus siamensis
Đồng danh: Crocodilus galeatus Cuvier, 1807
Đồng danh: Crocodylus ossifragus Dubois, 1908
Đồng danh: Crocodilus planirostris Graves, 1819
Đồng danh: Crocodylus siamensis (Schneider, 1801)
Tên khác: Cá sấu nước ngọt
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CÁ SẤU XIÊM

Crocodylus siamensis (Schneider, 1801)
Crocodilus galeatus Cuvier, 1807
Crocodylus ossifragus Dubois, 1908
Crocodilus planirostris Graves, 1819
Họ Cá sấu Crocodylidae
Bộ Cá sấu Crocodylia

Đặc điểm nhận dạng:
Cỡ lớn, chiều dài cơ thể khoảng 2,2 – 2,3m (trên thế giới, cá sấu xiêm lớn nhất đạt tới 4m). Mõm dài. Có từ 1 – 2 đôi tấm sau chẩm. Toàn thân phủ tấm sừng, những tấm sừng ở lưng có dạng hình chữ nhật, tiếp giáp nhau theo hàng ngang. Đuôi cao to, khỏe, phía trên đuôi có 4 gờ. Chân sau có màng bơi nối giữa các ngón. Thân màu xám, bụng nhạt màu hơn so với lưng, khác biệt với cá sấu hoa cà ở phần mõm và các tấm sừng ở đỉnh đầu.
Sinh học, sinh thái:
Thường sống ở những sông hồ lớn, đầm lầy nước ngọt, nơi nước lặng hoặc chảy chậm. Chúng sống chủ yếu trong nước, ngày nắng nóng mới lên cạn để tự điều chỉnh thân nhiệt. Thức ăn chủ yếu là cá, cua, ếch nhái, chim và thú nhỏ như chuột. Trong điều kiện nuôi, chúng có thể ăn cả mồi chết (phế thải của lò mổ: lòng trâu bò, lợn, gà,…). Cá sấu xiêm giao phối khoảng tháng 12 đến tháng 3 năm sau, kích thước tối thiểu con thành thục khoảng 1,8m. Chúng đẻ trứng mỗi năm 1 lần vào đầu mùa mưa từ tháng 4 – 10 dương lịch, từ 15 – 26 trứng (có khi tới 40 trứng). Một tuần trước khi đẻ, cá sấu đào 1 hố sâu đến 0,5m, rộng 0,8m rồi đẻ trứng vào đó. Chúng thường đẻ vào ban đêm. Sau khi đẻ xong, ổ đẻ được lấp bằng cành lá khô mục làm thành một mô cao đến 0,5m. Cá sấu mẹ có tập tính bảo vệ trứng. Sau khi đẻ 75 – 85 ngày thì trứng nở. Cá sấu sơ sinh dài khoảng 200 – 300mm.
Phân bố:
Trong nước: Kontum (sông Sa Thầy), Gia Lai (sông Ba), Đắk Lắk (sông Ea Súp, sông Krông Ana, hồ Lắk, hồ Krông Pách thượng), Khánh Hòa, Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên), Nam bộ (sông Cửu Long).
Nước ngoài: Thái Lan, Lào, Cambodia, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Có gia tri khoa học, thẩm mỹ. Giúp cân bằng sinh thái trong môi trường tự nhiên. Là vật nuôi ở những nơi vui chơi, giải trí (vườn động vật) giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu về sinh thái loài.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên giảm tới mức cạn kiệt > 80%. Nhiều nơi trước đây có, nay không còn gặp như ở Bầu Sấu thuộc tỉnh Khánh Hòa và Vườn quốc gia Cát Tiên do: săn bắt triệt để, môi trường sống ngày càng bị thu hẹp.
Phân hạngCR A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Cá sấu xiêm phân bố rải rác ở các sông lớn, hồ và vùng đầm lầy thuộc các tỉnh Tây Nguyên và Nam bộ. Tuy nhiên, hầu hết là các ghi nhận cũ, có rất ít ghi nhận về loài này trong tự nhiên trong khoảng 40 năm qua, quần thể ở VQG Cát Tiên là quần thể tái thả phục hồi. Loài này bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm, kỹ nghệ da và buôn bán; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do chiến tranh, tác động của các hoạt động sản xuất nông nghiệp, ô nhiễm nguồn nước, xây dựng đập thủy điện; quần thể trong tự nhiên ước tính bị suy giảm hơn 80% trong khoảng hơn 75 năm qua tương ứng với 3 thế hệ.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 260.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae