Cá sấu hoa cà
| Tên tiếng Anh: | Saltwater crocodile |
|---|---|
| Tên Latin: | Crocodylus porosus |
| Đồng danh: | Crocodylus porosus subsp. australis Deraniyagala, 1953 |
| Đồng danh: | Crocodylus porosus (Schneider, 1801) |
| Đồng danh: | Crocodylus porosus subsp. australis Deraniyagala, 1953 |
| Đồng danh: | Crocodylus porosus (Schneider, 1801) |
| Tên khác: | Cá sấu nước lợ |
- Độ cao so mặt nước biển 100 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Ấn Độ Myanmar Bà Rịa - Vũng Tàu Đồng Nai Thành phố Hồ Chí Minh Kiên Giang Hầu khắp Đông nam Á Philippines Srilanca Hầu khắp các tỉnh miền Tây nam bộ
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng bán ngập mặn Rừng ven biển Rừng tràm bán tự nhiên Loài sống bán thuỷ sinh, nhưng chủ yếu trên cạn Sống ở các khu rừng bán ngập mặn đẻ trứng nước ngọt
CÁ SẤU HOA CÀ
Crocodylus porosus (Schneider, 1801)
Crocodylus porosus subsp. australis Deraniyagala, 1953
Họ: Cá sấu Crocodylidae
Bộ: Cá sấu Crocodylia
Đặc điểm nhận dạng:
Cá sấu hoa cà là loài bò sát cỡ lớn, khác biệt với cá sấu xiêm ở phần đầu, chiều dài cơ thể tới 6m. Mõm dài, có 2 gờ chạy từ mũi tới mắt, không có tấm sau chẩm. Toàn thân phủ tấm sừng, những tấm sừng trên lưng cách nhau bởi màng da. Đuôi cao, to và khỏe, phía trên có 4 gờ. Chân sau có màng bơi nối giữa các ngón. Trên lưng màu vàng và xám đen xen kẽ nhau.
Sinh học, sinh thái:
Thường sống ở vùng duyên hải, ven các đảo, các cửa sông lớn hay các vùng rừng ngập mặn hoặc các đầm lầy nước lợ; nơi sống có thể mở rộng đến tận các đoạn sông có độ sâu lớn, ít chịu ảnh hưởng của thủy triều. Cá sấu non ăn chủ yếu tôm, cua, sâu bọ và cá nhỏ; con trưởng thành ăn thêm cả động vật có xương sống có kích cỡ phù hợp với kích thước cơ thể chúng. Cá sấu hoa cà đẻ khoảng 25 – 90 trứng, ổ đẻ trên cạn cách mực nước khoảng 60 – 80cm. Tổ đẻ được làm bằng cành lá, xếp thành ụ có đường kính tới 7m và cao trên 1m. Cá sấu mẹ có tập tính bảo vệ trứng. Thời gian phát triển của trứng khoảng 80 – 90 ngày.
Phân bố:
Trong nước: Từ Vũng Tàu – Cần Giờ đến vịnh Kiên Giang, đảo Phú Quốc, Côn Đảo.
Nước ngoài: Ấn Độ, Srilanka, Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Indonesia.
Philippin và Australia.
Giá trị:
Có gia tri khoa học, thẩm mỹ. Giúp cân bằng sinh thái trong môi trường tự nhiên. Là thú cảnh nuôi ở những nơi vui chơi, giải trí (công viên, vườn động vật) giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu về sinh thái loài.
Tình trạng:
Loài này đã từng ghi nhận ở khu vực cửa sông Cần Giờ, vùng biển Côn Đảo và Phú Quốc, miền Nam Việt Nam, ghi nhận gần đây nhất là ở đảo Phú Quốc vào năm 1994 nhưng không có minh chứng mẫu vật (Ho 1994). Từ đó đến nay không được ghi nhận lại trong tự nhiên. Ziegler et al. (2019) ghi nhận xương sọ cá sấu ở Cần Thơ và ước tính cá thể này đã chết cách nay khoảng 100 năm. Loài này đã bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm và kỹ nghệ da.
Phân hạng: EW
Biện pháp bảo vệ:
Bảo vệ sinh cảnh tiềm năng của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của con người trong vùng phân bố của loài để đón các cá thể di cư. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống cũng như đến quần thể của loài. Có thể nhân nuôi sinh sản để phục hồi quần thể.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 259.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Niệc mỏ vằn
Tên tiếng Anh:Wreathed hornbill
Tên Latin:Aceros undulatus
Rắn sãi khasi
Tên tiếng Anh:Khasi hills keelback
Tên Latin:Hebius khasiense
Te cựa
Tên tiếng Anh:River lapwing
Tên Latin:Vanellus duvaucelii
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae