Cá ông chuông
| Tên tiếng Anh: | False killer whale |
|---|---|
| Tên Latin: | Pseudorca crassidens |
| Đồng danh: | Delphinus crassidens (Owen, 1846) |
| Đồng danh: | Globicephalus grayi Burmeister, 1867 |
| Đồng danh: | Orca destructor Cope, 1866 |
| Đồng danh: | Pseudorca mediterranea Giglioli, 1882 |
| Tên khác: | Cá heo sát thủ giả |
- Độ cao so mặt nước biển 1 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Vườn Quốc gia Côn Đảo, Việt Nam Hầu khắp các vùng biển Việt Nam Vùng biển ấm từ 300 vĩ độ Bắc đến 300 vĩ độ Nam Vườn quốc gia Bái Tử Long, Việt Nam Vườn quốc gia Cát Bà, Việt Nam Vườn quốc gia Phú Quốc, Việt Nam
- Môi trường sống Dưới nước Thú biển Sống ở các khu vực biển sâu, nơi có ran san hô
CÁ ÔNG CHUÔNG
Pseudorca crassidens (Owen, 1846)
Delphinus crassidens (Owen, 1846)
Globicephalus grayi Burmeister, 1867
Orca destructor Cope, 1866
Pseudorca mediterranea Giglioli, 1882
Họ: Cá heo Delphinidae
Bộ: Cá voi Cetacea
Đặc điểm nhận dạng:
Có dạng cơ thể thon dài, phần trán phía trước tròn và không có mỏ làm cho phần đầu trông giống quả chuông. Vây lưng mảnh dẻ, chóp hơi tròn và cong về phía sau như lưỡi liềm. Vây bơi có bìa mép lượn cong; có lẽ đây là đặc tính khác biệt nhất của loài này. Loài có kích thước lớn, con trưởng thành có thể đạt tới 5 – 6 mét, toàn thân có màu xám đến đen, giữa đầu và ngực như có một giải màu xám trắng phân cách, đôi khi trên đầu có những vùng màu nhạt hơn. Mỗi hàm có từ 7 – 12 đôi răng lớn hình nón, tiết diện ngang của răng hơi tròn.
Sinh học, sinh thái:
Thường sống ở vùng biển khơi, sinh học sinh sản chưa được biết rõ, con mới sinh dài từ 1,50 – 2,0 m. Thức ăn chủ yếu là cá nổi và mực, đôi khi chúng tấn công cả các loài thú biển khác để ăn thịt. Loài này thường đi thành đàn từ 10 – 60 con, có khi nhiều hơn. Mặc dầu có kích thước lớn nhưng chúng bơi nhanh, linh hoạt và khôn khéo giống như các loài Cá heo có kích thước nhỏ.
Phân bố:
Trong nước: Vịnh Hạ Long, Khánh Hoà (có mẫu ở Bảo tàng Hải dương học Nha Trang), Bà Rịa – Vũng Tàu (Côn Đảo0, Kiên Giang (Phú Quốc).
Nước ngoài: Vùng biển ấm nhiệt đới, gần vùng xích đạo.
Giá trị:
Có giá trị lớn về mặt khoa học, thẩm mỹ và là nguồn gen quí hiếm để nghiên cứu các loài thú biển trong tự nhiên, dùng làm tiêu bản sống phục vụ học tập, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên. Có thể nuôi làm cảnh ở các Trung tâm bảo tồn để phục vụ du lịch. Ngoài ra Cá heo bụng trắng còn giúp cân bằng sinh thái tự nhiên.
Tình trạng:
Loài này không gặp thường xuyên ở vùng biển nào, nên khó xác định diện tích phân bố. Thỉnh thoảng chúng bị mắc cạn dạt vào bờ hoặc các hải đảo.
Biện pháp bảo vệ:
Không săn bắt Cá heo nói chung để lấy thịt câu Cá mập hoặc làm thực phẩm. Nếu phát hiện chúng bị mắc cạn thì tìm cách đưa chúng ra khơi.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2010 – phần động vật – trang 31.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm dải trắng chóp cam
Tên tiếng Anh:Colour sergeant
Tên Latin:Athyma nefte
Nai cà tông
Tên tiếng Anh:Eld's deer
Tên Latin:Cervus eldi
Bọ ngựa cánh xanh trung bộ
Tên tiếng Anh:Blue wings praying mantids
Tên Latin:Creobroter apicalis
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae