TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cá ngựa lớn

Tên tiếng Anh: Common seahorse
Tên Latin: Hippocampu kuda
Đồng danh: Hippocampus borboniensis Duméril, 1870
Đồng danh: Hippocampus aterrimus Jordan & Snyder, 1902
Đồng danh: Hippocampus borboniensis Duméril, 1870
Đồng danh: Hippocampus aterrimus Jordan & Snyder, 1902
Tên khác: Cá ngựa thường

CÁ NGỰA LỚN

Hippocampu kuda Bleeker, 1852
Hippocampus borboniensis Duméril, 1870
Hippocampus aterrimus Jordan & Snyder, 1902
Họ: Cá chìa vôi Syngnathidae
Bộ: Cá chìa vôi Syngnathiformes

Đặc điểm nhận dạng: 
Toàn thân được cấu tạo bởi các đốt xương vòng. Các gai của đốt thân ất ngắn, đôi khi chỉ như những mấu nhỏ. Đỉnh đầu có chùm gai thấp, đầu gai không sắc nhọn. Vây lưng 16 – 17 tia vây. Vây hậu môn rất nhỏ. Không có vây bụng và vây đuôi. Mõm hình ống, miệng nhỏ ở mút mõm.
Sinh học, sinh thái:
Gần giống Cá ngựa gai Hippocampus histrix. Loài này sinh sản quanh năm, mùa đẻ chủ yều vào tháng 4 – 5 và tháng 9 – 12. Con đực có túi ấp trứng ở bụng, con cái đẻ trứng vào túi này, con đực giữ trứng và thụ tinh trong túi ấp. Các trứng ấp được xếp thành hàng đều đặn. Cá cái chín mùi sinh dục ở kích thước 100 mm (khoảng 1 năm tuổi). Sức sinh sản tuyệt đối là 2.451 – 27.936 trứng/ cá thể. Cá đực 1 năm tuổi có kích thước 90 mm đã chín mùi sinh dục có thể nhận trứng để ấp trong túi của mình, mỗi cá thể đực có thể nhận 231 – 1405 trứng để ấp trong túi, thời gian phát triển phôi là 11 – 12 ngày ở nhiệt độ nước 27 – 300C.
Cá bột sau khi nở vẫn nằm trong túi ấp của cá bố, dinh dưỡng nhờ khối noãn hàng lớn ở bụng cho đến khi phát triển hoàn chỉnh thành cá con (hết túi noãn hoàng có đủ các vây) thì cá bố đẻ con vào môi trường nước từ đó cá con phải sống tự lập, không được bảo vệ. Chúng tìm mồi bằng những động vật phù du cỡ nhỏ. Nếu vì một lý do nào đó trứng trong túi ấp không nở thì cá đực cũng sẽ chết. Cá ngựa lớn bắt mồi chủ động là những động vật Phù du Copepoda, Tôm cám Mysidaceae, Moi Acetes và Artemiađặc biệt là chỉ ăn những con mồi còn tươi sống, không quen ăn mồi đã chết. Trước khi bắt mồi, cá ngựa có cử chỉ theo dõi mồi bằng mắt rồi bất chợt tấn công, khi đớp mồi có phát ra tiếng tép. Một số nghiên cứu khác còn cho biết loài này có tập tính phát ra âm thanh đơn độc hay tập thể trong mùa sinh sản như cá ngựa gai. Cá thể lớn nhất 300 mm, thông thường 200 – 150 mm.
Cá ngựa thường sống ở những vùng nước ven bờ và cửa sông nơi nước trong. Có độ mặn 30 – 34%, nhiệt độ nước 25 – 320C, trên những rạm san hô hoặc những vùng có thảm thực vật lớn (rong tảo, cỏ biểnđộ trong suốt cao. Chúng dùng đuôi cuốn chặt vào các nhánh cây để giữa cho thân thẳng đứng và không bị dòng nước hay sóng đẩy đi.
Phân bố:
Trong nước: Vịnh Bắc bộ. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu (Côn Đảo), Kiên Giang (Phú Quốc).
Nước ngoài: Ấn Độ Dương, Trung Quốc, Nhật Bản, Philippinee, Singapore, Australia, Hawai.
Giá trị:
Cá ngựa lớn có giá trị khoa học và thẩm mỹ. Cần thiết đưa vào sách giáo khoa để giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu sinh thái, tập tính loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Theo đánh giá vào năm 2012, ước tính quần thể của loài Cá ngựa đen trên phạm vi toàn cầu bị suy giảm > 30% trong khoảng 10 năm. Ở Việt Nam, số lượng cá ngựa đen suy giảm nghiêm trọng do mất môi trường sống, đặc biệt là các thảm cỏ biển và rạn san hô. Loài này cũng bị đánh bắt quá mức và buôn bán làm dược liệu cổ truyền. Ước tính kích cỡ quần thể đã suy giảm > 30% so với 10 năm trước đây và dự báo sẽ tiếp tục suy giảm với mức đọ tương tự trong 10 năm tới.
Phân hạng: VU A2cd+4cd.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES. Cần kiểm soát chặt chẽ tình trạng đánh bắt, buôn bán trong nước và quốc tế. Cấm đánh bắt cá ngựa đen dưới 10 cm và cấm khai thác vào mùa sinh sản, cấm đánh bắt cá mang trứng, khuyến nghị ngư dân thả về tự nhiên khi đánh bắt được. Thực hiện các chương trình bảo tồn nguyên vị và chuyển vị.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 303.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae