TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Cá còm

Tên tiếng Anh: Spiny seahorse
Tên Latin: Hippocampus histrix
Đồng danh: Hippocampus curvicuspis Fricke, 2004
Đồng danh: Hippocampus curvicuspis Fricke, 2004
Đồng danh: Hippocampus curvicuspis Fricke, 2004
Đồng danh: Hippocampus curvicuspis Fricke, 2004
Tên khác: Cá ngựa gai

CÁ NGỰA GAI

Hippocampus histrix Kaup, 1856
Hippocampus curvicuspis Fricke, 2004
Họ: Cá chìa vôi Syngnathidae
Bộ: Cá chìa vôi Syngnathiformes

Đặc điểm nhận dạng: 
Thân dài thô, phần thân phình rộng, phần đuôi thót nhỏ. Số vòng xương toàn thân: 11 + 35 – 36, góc các vòng có gai dài nhọn. Đầu có dạng “đầu ngựa”, đỉnh có chùm gai to trên một đế cao. Không có vây bụng và vây đuôi. Vây ngực và vây lưng đều có 18 tia. Vây hậu môn rất nhỏ, có 4 tia vây. Các đốt đuôi nhỏ dần và cử động linh hoạt, có thể cuộn quanh các nhánh rong cỏ hoặc san hô để bắt mồi. Toàn thân màu nâu nhạt, đỉnh gai các đốt thân mầu đen.
Sinh học, sinh thái:
Cá sinh sản quanh năm, mùa sinh sản chủ yếu vào tháng 5 – 11. Cá đực có túi ở bụng chứa và ấp trứng. Kết quả nghiên cứu trong bể nuôi thí nghiệm cho thấy, mỗi lứa cá đực ấp từ 205 – 622 trứng, thời gian phát triển phôi ở nhiệt độ 27 – 300C là 11 – 12 ngày. Sức sinh sản tuyệt đối của một cá cái là 9.796 – 23.965 trứng, sức sinh sản tương đối (số lượng trứng /1gam trọng lượng thân) là 605 – 2.595 trứng. Thức ăn là động vật phù du còn sống. Cá thường sống ở vùng gần bờ, nước trong, độ mặn 30 – 32%o, nhiệt độ nước 25 – 320C. Kích thước lớn nhất đến 24 cm, thường gặp 14 – 15 cm.
Phân bố:
Trong nước: Vùng biển Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang.
Nước ngoài: Nhật Bản, Trung Quốc, Philippine, Indonesia, Malaysia, Singapore, Hawai, Tahiti, Australia, Biển Đỏ, Zanzibar.
Giá trị:
Có giá trị khoa học, thẩm mỹ, có thể nuôi trong các công viên nước biển để phục vụ nhu cầu du lịch và nghiên cứu sinh thái
Tình trạng:
Trên thế giới, loài này bị đe dọa do sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái cùng với việc khai thác quá mức và buôn bán làm dược liệu. Mức độ suy giảm của giống Hippocampus ước tính khoảng 59% so với 10 năm trước đây, kích thước trung bình của cá cũng giảm so với trước đây. Ở Việt Nam, nơi cư trú của Cá ngựa gai dài là các rạn san hô và thảm cỏ biển bị thu hẹp và suy thoái. Loài này bị khai thác bởi các loại ngư cụ khác nhau để làm dược liệu và nuôi làm cảnh. Quần thể của loài ước tính bị suy giảm > 50% trong 10 năm qua và dự báo tiếp tục bị suy giảm ở mức độ tương tự trong 10 năm tới.
Phân hạng: EN A2acd+4cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES. Loài này đã được nhân nuôi sinh sản thành công tại Viện Hải dương học (Nha Trang). Tuy nhiên vẫn cần kiểm soát chặt chẽ tình trạng đánh bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Cấm đánh bắt cá ngựa gai dài có kích thước dưới 15 cm hoặc cá mang trứng, khuyến nghị ngư dân thả lại tự nhiên khi đánh bắt được. Phục hồi quần thể từ nguồn con giống nuôi nhân tạo.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae