TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cá ngựa đen

Tên tiếng Anh: Spotted seahorse
Tên Latin: Hippocampus kuda
Đồng danh: Hippocampus rhynchomacer Duméril, 1870
Đồng danh: Hippocampus taeniops Fowler, 1904
Đồng danh: Hippocampus horai Duncker, 1926
Đồng danh: Hippocampus novaehebudorum Fowler, 1944
Tên khác: Cá ngựa chấm

CÁ NGỰA ĐEN

Hippocampus kuda Bleeker, 1852
Hippocampus rhynchomacer Duméril, 1870
Hippocampus taeniops Fowler, 1904
Hippocampus horai Duncker, 1926
Hippocampus novaehebudorum Fowler, 1944
Họ: Cá chìa vôi Syngnathidae
Bộ: Cá chìa vôi Syngnathiformes

Đặc điểm nhận dạng:
Đặc điểm hình thái chung giống như cá ngựa gai, nhưng thân hình lớn hơn. Gai ở góc các vùng xương thân rất ngắn, đôi khi chỉ như những mấu nhỏ. Đỉnh đầu có chùm gai thấp, đầu gai không sắc nhọn. Số vòng xương 11+35 – 36. Thân màu nâu đen, đầu và bên thân có nhiều chấm đen, đôi khi có cả một số chấm trắng nhỏ. Vây lưng có một vân màu đen chạy dọc. Vây ngực và vây hậu môn màu nhạt.
Sinh học, sinh thái:
Mùa đẻ tháng 4 – 5 và 9 – 12, sức sinh sản tuyệt đối từ 2451 – 27936 trứng/ cá thể cái. Cá đực một năm tuổi dài 90 mm đã chín muồi sinh dục có thể nhận trứng để ấp, mỗi cá thể có thể nhận ấp 231 – 1.405 trứng. Thời gian phát triển phôi là 11 – 12 ngày ở nhiệt độ nước 27 – 300C. Thức ăn là những động vật phù du còn sống (Copepoda, Acetes, Artemia). Sống ở vùng nước trong ven bờ nơi có nhiều rong, cỏ biển và san hô, nhiệt độ nước 25 – 320C, độ mặn 30 – 34%0. Kích thước lớn nhất đến 30 cm, thường gặp 15 – 20 cm.
Phân bố:
Trong nước: Vịnh Bắc bộ, Nam trung bộ (từ Đà Nẵng đến Bà Rịa – Vũng Tàu), Kiên Giang, Phú Quốc}.
Nước ngoài: Nhật Bản, Trung Quốc, Philippine, New Ghine, Malaysia, Singapore, Hawai, Australia, Ấn Độ D­ương.
Giá trị:
Có giá trị khoa học, thẩm mỹ như các loài Cá ngựa khác, Theo số liệu điều tra thực địa từ Đà Nẵng đến Bình Thuận, Cá ngựa đen chiếm 14,3%, sản lượng, đặc biệt trong vùng biển Nha Trang chiếm tới 85,8%. Viện Hải dương học Nha Trang đã tiến hành nuôi thí nghiệm loài này để nghiên cứu tập tính dinh dưỡng, nhưng kết quả còn hạn chế.
Tình trạng:
Theo đánh giá vào năm 2012, ước tính quần thể của loài Cá ngựa đen trên phạm vi toàn cầu bị suy giảm > 30% trong khoảng 10 năm. Ở Việt Nam, số lượng cá ngựa đen suy giảm nghiêm trọng do mất môi trường sống, đặc biệt là các thảm cỏ biển và rạn san hô. Loài này cũng bị đánh bắt quá mức và buôn bán làm dược liệu cổ truyền. Ước tính kích cỡ quần thể đã suy giảm > 30% so với 10 năm trước đây và dự báo sẽ tiếp tục suy giảm với mức đọ tương tự trong 10 năm tới.
Phân hạng: VU A2cd+4cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải kiểm soát chặt chẽ tình trạng đánh bắt, buôn bán trong nước và quốc tế. Cấm đánh bắt cá ngựa đen dưới 10 cm và cấm khai thác vào mùa sinh sản, cấm đánh bắt cá mang trứng, khuyến nghị ngư dân thả về tự nhiên khi đánh bắt được. Thực hiện các chương trình bảo tồn nguyên vị và chuyển vị.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae