TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cá mơn

Tên tiếng Anh: Asian arowana
Tên Latin: Scleropages formosus
Đồng danh: Osteoglossum formosum Miiler and Schlegel, 1839
Đồng danh: Scleropages formosus (Miiler and Schlegel, 1839)
Đồng danh: Osteoglossum formosum Miiler and Schlegel, 1839
Đồng danh: Scleropages formosus (Miiler and Schlegel, 1839)
Tên khác: Cá rồng

CÁ MƠN

Scleropages formosus (Miiler and Schlegel, 1839)
Osteoglossum formosum Miiler and Schlegel, 1839
Họ: Cá mơn Osteoglossidae
Bộ: Cá mơn Osteoglossiformes

Đặc điểm nhận dạng:
Cá cỡ lớn, thân thon, dài, dẹp bên. Có một đôi râu mõm ngắn, mập. Miệng lớn, rạch miệng xiên, vượt quá viền sau của ổ mắt. Mắt to, tròn, nằm lệch lên phần trên của đầu. Vảy to. Đường bên bắt đầu từ phía trên sau xương nắp mang uốn xuống giữa thân và phía sau hơi lệch về phần dưới cán đuôi. Tia vây ngực dài, tia vây bụng ngắn. Vây lưng và vây hậu môn nằm ở phần sau của thân, gần vây đuôi. Vây đuôi gần tròn. Màu sắc nhìn chung có ánh kim có thể thay đổi tùy vùng.
Sinh học, sinh thái:
Cá con ăn các loài côn trùng sống trên mặt nước, cá trưởng thành ăn các loài cá. Trứng cá lớn, số lượng ít. Cá ấp trứng phôi trong miệng. Cá có kích thước lớn, chiều dài cá thường đạt đến 90 cm và trọng lượng đến trên 7kg
Phân bố:
Trong nước: Đồng Nai (vùng trung lưu sông Đồng Nai, Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên huyện Tân Phú), Bình Dương (Sông Bé)
Nước ngoài: Thái Lan, Cambodia, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Có giá trị độc đáo về mặt khoa học, loài độc nhất trong giống, họ và cũng là loài cá cảnh quý được nhiều nước ưa chuộng.
Tình trạng:
Có số lượng rất ít, phân bố rất hẹp. Trước năm 1986 (trước lúc hình thành hồ chứa nước của công trình thủy điện Trị An), cá phân bố ở khu vực Cây Gáo, trung lưu sông Đồng Nai (thuộc huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai). Hiện tại khu vực này nằm trong hồ chứa nước Trị An không còn gặp Cá mơn nữa. Mới phát hiện một quần thể nhỏ của Cá mơn ở khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên, trung lưu sông Đồng Nai thuộc huyện Tân Phú, Đồng Nai. Diện tích phân bố ước tính < 100km2. Đã thu được mẫu, lưu giữ tại Vườn quốc gia Cát Tiên và Khu bảo tồn thiên nhiên, văn hóa Đồng Nai. Đây là loài có giá trị cao trong thị trường buôn bán cá cảnh trên thế giới. Tại Việt Nam, loài này chỉ được ghi nhận tại trung lưu sông Đồng Nai, trong các vùng đất ngập nước, suối và sông thuộc VQG Cát Tiên, kích cỡ quần thể ngoài tự nhiên rất nhỏ, ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: CR A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP của Chính phủ và Phụ lục I CITES, đã được đưa vào Danh lục đỏ IUCN (1994). Đề xuất nghiên cứu về phân bố và hiện trạng quần thể của loài. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, chú trọng giảm thiểu tác động của con người trong vùng phân bố của loài. Kiểm soát và hạn chế khai thác cá con trong tự nhiên. Cần cấm đánh bắt loài cá này trong một thời gian ít nhất là 10 năm. Tiến hành nghiên cứu sinh học, phân bố của Cá mơn ở Nam Bộ và Tây Nguyên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae